Chào mừng đến TRANG THÔNG TIN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH - Địa chỉ: 01 Trần Phú - TP Quy Nhơn - tỉnh Bình Định. Điện thoại: 056.3822294 - 08056011. Email: vpubbinhdinh@vpub.binhdinh.gov.vn
 

Tổng hợp Thông tin chính sách 02-10 đến 06-10-2017

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH

1. Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2017

Tiêu chuẩn danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc, cơ sở; 20 loại hàng hóa, dịch vụ thực hiện độc quyền Nhà nước; quy định mới về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức;... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2017.

Công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng PCCC

Nghị định 83/2017/NĐ-CPngày 18/07/2017 quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy có hiệu lực 04/10/2017.

Nghị định này quy định về bố trí lực lượng và hoạt động cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy; nguyên tắc, quan hệ phối hợp, bảo đảm điều kiện và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tiêu chuẩn danh hiệu chiến sĩ thi đua

Nghị định91/2017/NĐ-CPngày 31/07/2017 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng có hiệu lực từ 01/10/2017, trong đó quy định tiêu chuẩn danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc, Chiến sỹ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương, Chiến sĩ thi đua cơ sở.

20 loại hàng hóa, dịch vụ thực hiện độc quyền Nhà nước

Theo Nghị định94/2017/NĐ-CPvề hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại có hiệu lực từ 01/10/2017, 20 hàng hóa, dịch vụ thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại.

Nghị định nêu rõ, chỉ thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà Nhà nước cần phải độc quyền liên quan đến quốc phòng, an ninh, đảm bảo lợi ích quốc gia hoặc các thành phần kinh tế khác không có nhu cầu và khả năng tham gia..

Bổ sung quy định xác định đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức

Có hiệu lực từ ngày 05/10/2017, Nghị định số97/2017/NĐ-CP 18/08/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trong đó, Nghị định bổ sung quy định về các tiêu chí xác định đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức. Theo quy định mới, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện: 1- Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật; 2- Hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Quy định mới về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Nghị định101/2017/NĐ-CPngày 01/09/2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực từ 21/10/2017, trong đó Nghị định quy định về đối tượng, điều kiện đào tạo, hình thức bồi dưỡng.

4 biện pháp bảo đảm phải đăng ký

Theo Nghị định102/2017/NĐ-CPngày 1/9/2017 quy định thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tài sản, quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm có hiệu lực từ 15/10/2017,  4 các biện pháp bảo đảm phải đăng ký gồm: 1- Thế chấp quyền sử dụng đất; 2- Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; 3- Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; 4- Thế chấp tàu biển.

Cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên xuất bản phẩm

Thông tư 09/2017/TT-BTTTT quy định về tỷ lệ, nội dung, thời điểm, thời lượng dành cho trẻ em và cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm có hiệu lực từ 1/10/2017.

Cấp giấy phép qua mạng cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Thông tư 23/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam qua mạng điện tử có hiệu lực từ 2/10/2017.

Theo Hoàng Diên (baochinhphu.vn)

2. Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW

Chính phủ đãban hànhChương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việc xây dựng và ban hành Chương trình hành động nhằm thống nhất chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung tổ chức quán triệt, triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết, đưa các chính sách và chủ trương được ban hành trong thời gian gần đây của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn đồng bộ và hiệu quả, góp phần cụ thể thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá XII về phát triển kinh tế tư nhân, tập trung vào nhóm nhiệm vụ và giải pháp: Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân và hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.

Chính phủ xác định 5 nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW, bao gồm:

Thứ nhất,hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, ít rủi ro, nhằm thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của kinh tế tư nhân cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo cơ chế thị trường.

Chính phủ giao các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan tập trung triển khai quyết liệt, thực hiện nghiêm túc: Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017 ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020; Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 22/7/2016 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.

Thứ hai,bãi bỏ các rào cản, quy định điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, mở rộng khả năng tham gia thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Chính phủ giao các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan tiếp tục, rà soát, đánh giá, đề xuất bãi bỏ ít nhất từ 1/3 đến 1/2 số điều kiện kinh doanh hiện hành trong lĩnh vực quản lý và thủ tục hành chính, đang gây cản trở, khó khăn cho hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Tổ chức đối thoại công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng doanh nghiệp, báo chí để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

Thứ ba,về tăng cường khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng và các nguồn lực, Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng Đề án xây dựng thị trường vận tải cạnh tranh theo hướng phát triển vận tải đa phương thức, kết nối giữa các hình thức vận tải khác nhau, chú trọng khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để giảm thiểu chi phí vận tải, tạo thuận lợi cho lưu thông, phân phối hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp; trình Chính phủ trong quý IV/2018.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển đô thị khởi nghiệp sáng tạo, theo hướng rà soát lại quy hoạch, nắm bắt xu hướng đô thị hóa, phát triển các cụm nhà cho thuê làm văn phòng dùng chung, trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quy mô nhỏ, chi phí thấp, dễ tiếp cận, kết nối với các trường đại học, cụm công nghiệp, khu công nghiệp và khu đô thị mới, tạo ra các vành đai kinh tế mới, tạo điều kiện cho các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận dễ dàng về mặt bằng sản xuất, kinh doanh, thị trường, hậu cần và các dịch vụ hỗ trợ; trình Chính phủ trong quý IV năm 2018.

Thứ tư,hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.

Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp gắn kết các chính sách khuyến khích hoạt động liên kết ngành, tham gia chuỗi giá trị của các doanh nghiệp tư nhân trong nước với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài; phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát, báo cáo tình hình các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ kiện đầu vào cung cấp cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn. Báo cáo kết quả với Thủ tướng Chính phủ trong quý II/2018.

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì rà soát, báo cáo tình hình hoạt động các khu công nghệ cao, vườn ươm công nghệ cao; tình hình hoạt động của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ; đánh giá lại và đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, ứng dụng và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý II/2018.

Thứ năm,nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; thống nhất nhận thức, tư tưởng về phát triển kinh tế tư nhân. Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan tuyên truyền phổ biến quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 10-NQ/TW khoá XII nhằm quán triệt tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh, đồng thời ngăn chặn mọi biểu hiện của quan hệ “lợi ích nhóm”, thao túng chính sách để trục lợi bất chính.

Chính phủ giao các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ và của từng bộ, cơ quan, địa phương; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện với Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi và tổng hợp theo quy định.

Theo chinhphu.vn

3. Sửa Luật Đầu tư công: Tăng phân cấp, giảm thủ tục

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đang lấy ý kiến để hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công. 

Việc sửa đổi này, theo Bộ KH&ĐT, sẽ có tác động lớn đến công tác quản lý vốn đầu tư công, tăng cường phân cấp, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các bộ, ngành, địa phương trong triển khai dự án.

Luật Đầu tư công đã có hiệu quả tích cực

Theo Bộ KH&ĐT, triển khai Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đã ngăn ngừa được sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí trong việc quyết định chủ trương đầu tư; đã phân cấp mạnh mẽ cho các bộ, ngành trung ương và địa phương trong quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư dự án, đi cùng với các chế tài nâng cao trách nhiệm của người ra quyết định chủ trương đầu tư. Luật bổ sung quy định về thẩm định nguồn vốn và cân đối vốn trước khi quyết định chủ trương đầu tư, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình, dự án đầu tư công, bảo đảm bố trí vốn một cách tập trung cho các mục tiêu, dự án ưu tiên cần thiết phải đầu tư, khắc phục tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án, đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư công.

Việc bố trí vốn đầu tư được tập trung hơn trước, đã góp phần đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa công trình, dự án vào sử dụng phát huy hiệu quả; đã dành số vốn đáng kể để thanh toán vốn ứng trước và xử lý dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó, đã giải quyết thanh toán 100% số vốn nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách trung ương; hoàn trả 68,4% số vốn ứng trước kế hoạch của giai đoạn trước chưa có nguồn để hoàn trả; số lượng dự án khởi công mới giảm mạnh. Tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Đặc biệt, công tác lập kế hoạch đầu tư đã đổi mới từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hằng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, vừa bảo đảm các cân đối kinh tế lớn trong phạm vi cả nước, vừa tạo sự chủ động cho các bộ, ngành, địa phương, tạo ra sự công khai, minh bạch trong phân bổ nguồn lực của Nhà nước.

Tuy nhiên, trong thực tế triển khai Luật vẫn còn một số hạn chế. Theo Bộ KH&ĐT, có nhiều đơn vị đề xuất và triển khai thực hiện một số nội dung không đúng với các quy định của pháp luật, trái thẩm quyền; một số cơ quan, đơn vị chưa thực hiện đầy đủ các quy định về phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, bố trí vốn không phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chí, nên phải điều chỉnh kế hoạch giao vốn nhiều lần và kéo dài thời gian giao vốn.

Chất lượng chuẩn bị dự án chưa tốt, vẫn còn tình trạng một số dự án chuẩn bị đầu tư và phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư dự án, quyết định đầu tư dự án mang tính hình thức để có điều kiện ghi vốn; phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp với thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, dẫn đến sau khi bố trí kế hoạch lại yêu cầu điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thậm chí phải thẩm định lại nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.

Tiếp tục hoàn thiện quy định về đầu tư công

Qua thực tiễn triển khai thực hiện Luật Đầu tư công thời gian qua cho thấy quy định tại Luật cơ bản phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quản lý đầu tư công nên đã phát huy được những tác động tích cực. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để đảm bảo phù hợp với thực tế, tháo gỡ khó khăn cho bộ, ngành và địa phương.

Một số quy định tại Luật Đầu tư công hiện hành còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công như việc điều chỉnh giữa các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, chưa thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan, chưa thống nhất với các quy định khác tại Luật và chưa phù hợp với thực tế.

Từ thực tế đó, việc xây dựng Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công sẽ tháo gỡ 3 nhóm vấn đề vướng mắc chủ yếu, gồm nhóm vấn đề liên quan đến đối tượng dự án; nhóm vấn đề liên quan đến trình tự, thủ tục và nhóm vấn đề còn chưa thống nhất giữa các luật liên quan đến đầu tư công.

Trong đó, dự thảo Luật Sửa đổi chú trọng đẩy mạnh phân cấp trong quản lý hoạt động đầu tư công, từ phân cấp điều chỉnh dự án đến phân cấp phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư gắn với trách nhiệm của từng cấp.

Theo Việt Thắng (baodauthau.vn)

4. Quy định về kinh phí hoạt động của các cơ sở trợ giúp xã hội

Ngày 12/9/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 103/2017/NĐ-CP về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội. Trong đó, các vấn đề liên quan đến kinh phí hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập đã được quy định rõ.

Nghị định 103/2017/NĐ-CP nêu rõ, các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội gồm: Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người cao tuổi; chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; chăm sóc người khuyết tật; chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí; Cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp thực hiện việc chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội hoặc đối tượng cần trợ giúp xã hội; Trung tâm công tác xã hội thực hiện việc tư vấn, chăm sóc khẩn cấp hoặc hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho đối tượng cần trợ giúp xã hội; Cơ sở trợ giúp xã hội khác theo quy định của pháp luật.

Về kinh phí hoạt động, đối với cơ sở trợ giúp xã hội công lập, nguồn kinh phí bao gồm: Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Nguồn thu phí dịch vụ từ các đối tượng tự nguyện; Nguồn thu từ hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ của cơ sở trợ giúp xã hội; Nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; Nguồn khác theo quy định của pháp luật.

Đối với cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập, nguồn kinh phí bao gồm: Nguồn tự có của chủ cơ sở trợ giúp xã hội; Nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; Nguồn thu phí dịch vụ từ đối tượng tự nguyện; Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật; Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội.

Về quản lý tài chính, tài sản, cơ sở thực hiện quản lý tài chính, tài sản là theo các quy định của pháp luật

Việc sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí phải thực hiện công khai, minh bạch và theo Quy chế hoạt động, Quy chế chi tiêu của cơ sở.

Cơ sở có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật.

Ngoài những nội dung trên, Nghị định 103/2017/NĐ-CP còn có các quy định nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở trợ giúp xã hội; các vấn đề về thành lập, tổ chức lại và giải thể cơ sở trợ giúp xã hội…

Nghị định 103/2017/NĐ-CP có  hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2017.

Theo PV. (tapchitaichinh.vn)

5. Đề xuất mức phí sử dụng thông tin CSDL quốc gia về dân cư

Đối với khai thác dữ liệu chi tiết dân cư, mức phí là 800 đồng/01 thông tin về công dân. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ quyết định và cho phép các tổ chức, cá nhân khai thác số lượng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo bí mật đời tư của công dân.

Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí khai thác, sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Dự thảo đề xuất mức thu phí khai thác dữ liệu tổng hợp dân cư như sau: Báo cáo thống kê tổng hợp dữ liệu dân cư cấp tỉnh, thành phố, mức phí là 250.000 đồng/báo cáo; Báo cáo thống kê tổng hợp dữ liệu dân cư cấp quận, huyện, mức phí 200.000 đồng/báo cáo; Báo cáo thống kê tổng hợp dữ liệu dân cư cấp xã, phường, thị trấn mức phí 150.000 đồng/báo cáo.

Đối với khai thác dữ liệu chi tiết dân cư, mức phí là 800 đồng/01 thông tin về công dân.

Căn cứ vào nhu cầu khai thác chi tiết dữ liệu dân cư, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ quyết định và cho phép các tổ chức, cá nhân khai thác số lượng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo bí mật đời tư của công dân.

Trong đó: Thông tin về công dân được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được xác định gồm 15 thông tin cơ bản theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân ngày 20/11/2014.

Dịch vụ xác minh nhân thân, mức phí 10.000 đồng/bản.

Tổ chức thu phí gồm: Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư (C72) – Tổng cục Cảnh sát; Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công an các quận, huyện thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; Công an các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Tổ chức thu phí được để lại 90% số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho việc cung cấp dịch vụ và thu phí. Số tiền phí được để lại được quản lý và sử dụng theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí.

Theo Khánh Linh (baochinhphu.vn)

6. Quy định cụ thể trách nhiệm bảo vệ và quản lý Di sản thế giới

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109/2017/NĐ-CP quy định về bảo vệ và quản lý Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam. Theo đó, khu vực Di sản thế giới được bảo vệ như đối với khu vực bảo vệ I của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh theo quy định của pháp luật về Di sản văn hóa.

Vùng đệm của khu vực Di sản thế giới được bảo vệ như đối với khu vực bảo vệ II của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh theo quy định của pháp luật về Di sản văn hóa. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với việc lập quy hoạch tổng thể Di sản thế giới theo quy định của pháp luật về quy hoạch và pháp luật về Di sản văn hóa.

Trường hợp Di sản thế giới đồng thời có khu vực Di sản thế giới và vùng đệm của khu vực Di sản thế giới là một phần hoặc toàn bộ diện tích của khu du lịch quốc gia, rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển thì chỉ lập một quy hoạch tổng thể Di sản thế giới, trong đó lồng ghép nội dung giữa bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh với bảo vệ tài nguyên du lịch, tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản, tài nguyên địa chất, địa mạo, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng theo quy định của pháp luật về quy hoạch, pháp luật về di sản văn hóa và quy định pháp luật khác có liên quan.

Nhiệm vụ của tổ chức quản lý Di sản thế giới

Nghị định quy định cụ thể nhiệm vụ của tổ chức được giao quản lý, sử dụng Di sản thế giới. Cụ thể, tổ chức được giao quản lý, sử dụng Di sản thế giới có nhiệm vụ lập phương án và tổ chức triển khai thực hiện phương án bảo vệ và quản lý Di sản thế giới ngắn hạn, trung hạn và dài hạn sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức giám sát định kỳ tình trạng bảo tồn của Di sản thế giới, kịp thời ngăn chặn hành vi xâm hại Di sản thế giới và báo cáo tới cơ quan có thẩm quyền những nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới di sản thế giới.

Tổ chức hoặc liên kết tổ chức hoạt động tuyên truyền, quảng bá, trưng bày, giới thiệu về Di sản thế giới; nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa, lưu trữ tài liệu về di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể liên quan phục vụ công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi, tôn tạo Di sản thế giới; bảo quản, nghiên cứu, sưu tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, mẫu vật địa chất, động vật, thực vật tại Di sản thế giới và trưng bày, triển lãm lưu động bên ngoài phạm vi Di sản thế giới; tổ chức trình diễn, giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể gắn với Di sản thế giới.

Cơ quan được giao hướng dẫn, thuyết minh phục vụ khách tham quan du lịch tại Di sản thế giới; tổ chức hoặc liên kết tổ chức hoạt động du lịch dịch vụ phục vụ công chúng tham quan, nghiên cứu, học tập, giải trí tại Di sản thế giới; đánh giá tác động của hoạt động du lịch đối với Di sản thế giới và đề xuất phương án giảm thiểu tác động làm suy giảm giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thế giới (nếu có).
Tổ chức được giao quản lý, sử dụng di sản thế giới được tổ chức bán vé, thu phí tham quan và dịch vụ; quản lý, sử dụng nguồn thu theo quy định của pháp luật; tham gia quản lý, liên kết và giám sát các hoạt động đầu tư, bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển sinh vật trong khu vực di sản thế giới và vùng đệm của khu vực di sản thế giới; phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế - xã hội trong khu vực Di sản thế giới và vùng đệm của khu vực Di sản thế giới....
Nghị định cũng quy định cụ thể trách nhiệm bảo vệ và quản lý Di sản thế giới của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/11/2017./.

Theo moj.gov.vn

7. Đề xuất 4 bước lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý

Bộ Tư pháp đang dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Trong đó, Bộ đề xuất 4 bước lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật.

Theo đó, việc lựa chọn và ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý giữa Sở Tư pháp với tổ chức gồm 4 bước, cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định yêu cầu trợ giúp pháp lý: Căn cứ vào tình hình thực tiễn địa phương, Sở Tư pháp xác định yêu cầu trợ giúp pháp lý để làm cơ sở cho việc tổ chức lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý. Việc xác định yêu cầu trợ giúp pháp lý của địa phương dựa trên các nội dung: (a) Số lượng vụ án được xét xử của năm trước trên địa bàn tỉnh/thành phố và số lượng người được trợ giúp pháp lý, dân số của địa phương; kết quả thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý năm trước và số lượng trợ giúp viên pháp lý hiện có của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; (b) Kết quả tham gia trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; (c) Số lượng luật sư, tư vấn viên pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tại địa phương.

Bước 2: Thông báo lựa chọn tổ chức ký hợp đồng: Sở Tư pháp thông báo công khai về việc lựa chọn ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp để các tổ chức biết đăng ký tham gia.

Bước 3: Đánh giá Hồ sơ đăng ký lựa chọn tổ chức: Tổ đánh giá có trách nhiệm đánh giá Hồ sơ đăng ký lựa chọn qua các bước: (1) Đánh giá tính hợp lệ của Hồ sơ đăng ký lựa chọn tổ chức. Các Hồ sơ được tất cả các thành viên đánh giá là đạt ở tất cả các tiêu chí sẽ tiếp tục được đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý; (2) Đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu trợ giúp pháp lý dựa trên các nội dung: năm thành lập, số luật sư làm việc tại tổ chức, số lượng vụ việc thực hiện của tổ chức, số lượng vụ việc tham gia tố tụng của tổ chức, số lượng vụ việc thành công của tổ chức, uy tín, kinh nghiệm của tổ chức khi tham gia trợ giúp pháp lý và các yếu tố cần thiết khác (nếu có). Sử dụng phương pháp chấm điểm theo thang điểm 100 để đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý, trong đó quy định mức điểm tối thiểu và mức điểm tối đa đối với từng yêu cầu.

Kết thúc quá trình đánh giá, Tổ trưởng Tổ đánh giá có trách nhiệm tổng hợp kết quả đánh giá của các thành viên và thông báo kết quả đánh giá đến các Tổ chức đăng ký; đăng tải công khai kết quả đánh giá trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp.

Bước 4: Ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý:Sau khi kết quả lựa chọn được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp, Sở Tư pháp ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với các tổ chức được lựa chọn.

Theo Tuệ Văn (baochinhphu.vn)

8. Từ 1/10: Báo chí, truyền hình phải cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em

Từ 1/10/2017, Thông tư 09/2017/TT-BTTTT quy định về tỉ lệ nội dung, thời điểm, thời lượng dành cho trẻ em và cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm chính thức có hiệu lực.

Phát biểu tại Hội nghị giao ban quản lý nhà nước Bộ TT&TT quý III/2017, đại diện Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử cho biết, từ ngày 1/10/2017, Thông tư 09/2017/TT-BTTTT quy định về tỷ lệ nội dung, thời điểm, thời lượng dành cho trẻ em và cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm của Bộ TT&TT chính thức có hiệu lực.

Thông tư quy định đối với báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, khi thông tin về những vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật mà trẻ em là nạn nhân hoặc là người liên quan, phải làm mờ hoặc che mặt trẻ em và bảo đảm thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em.

Khi sử dụng trẻ em, hình ảnh trẻ em làm nhân vật, hình ảnh minh họa trong các chương trình phản ánh về các vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật: Đối với trẻ em dưới 7 tuổi, phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định hiện hành; đối với trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên, phải có sự đồng ý của trẻ em và của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định hiện hành.

Đối với xuất bản phẩm, khi sử dụng hình ảnh trẻ em để minh họa trên xuất bản phẩm: Đối với trẻ em dưới 7 tuổi, phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định hiện hành; đối với trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên, phải có sự đồng ý của trẻ em và của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định hiện hành.

Thông tư nêu rõ các cơ quan báo chí, nhà xuất bản phải thực hiện việc cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên các chương trình của kênh phát thanh, kênh truyền hình; báo in, báo điện tử và xuất bản phẩm. Việc cảnh báo phải được thực hiện bằng một trong các phương thức hoặc kết hợp nhiều phương thức phù hợp với từng loại hình báo chí, xuất bản phẩm, bao gồm nhưng không giới hạn: âm thanh, hình ảnh, chữ viết, biểu tượng.

Đối với phát thanh, truyền hình, nội dung cảnh báo phải được thể hiện ngay trước khi bắt đầu phát sóng chương trình có nội dung cần cảnh báo.

Đối với báo in, nội dung cảnh báo phải được thể hiện ngay sát phía trên hoặc sát phía dưới tên tin, bài hoặc ngay tại vị trí đăng tin, bài. Đối với báo điện tử, nội dung cảnh báo phải được hiện lên ngay sau khi độc giả ấn chọn tin, bài và trước khi độc giả đọc được toàn bộ nội dung tin, bài.

Nội dung cảnh báo trên phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử phải bảo đảm ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nhận biết và phải thể hiện được tối thiểu một trong các khuyến cáo sau: Nội dung không phù hợp với trẻ em, đề nghị cân nhắc trước khi đọc, nghe, xem. Cha mẹ, người lớn cần hướng dẫn nếu trẻ em đọc, nghe, xem. Chương trình, phim có hình ảnh và tình tiết nhạy cảm, khuyến cáo nên có sự hướng dẫn của phụ huynh khi xem. Nội dung không phù hợp với trẻ em dưới 6 tuổi. Nội dung không phù hợp với trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 11 tuổi. Nội dung không phù hợp với trẻ em từ 11 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Đối với xuất bản phẩm dành cho trẻ em có nội dung về giáo dục giới tính; chống bạo lực, xâm hại thân thể trẻ em phải ghi dòng chữ “Cha mẹ, người lớn cần hướng dẫn trẻ em đọc” tại trang tên sách hoặc tại bìa 4.

Theo Đình Anh (ictnews.vn)

9. TAND tối cao: Chú trọng phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử

Đây là một trong các nội dung được đề cập đến trong Kế hoạch thực hiện chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021 của TAND tối cao, được ban hành ngày 28/ 09/2017 vừa qua.

Để thực hiện nghiêm việc phổ biến giáo dục pháp luật và sử dụng nguồn lực tiết kiệm, hiệu quả, ngày 28/09/2017 Chánh án TAND tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 204/QĐ-TANDTC Kế hoạch thực hiện chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 – 2021.

Theo đó, yêu cầu chú trọng việc lồng ghép phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử, kết hợp để sử dụng nguồn lực tiết kiệm, hiệu quả. Cụ thể yêu cầu:

– Vụ Tổng hợp TANDTC tổ chức quán triệt, phổ biến nội dung Chương trình bằng hình thức phù hợp; xây dựng, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Chương trình trong Quý III năm 2017;

– Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC ban hành Kế hoạch của Chánh án TANDTC thực hiện Chương trình Phổ biến, giáo dục pháp luật trước tháng 10 năm 2017;

– Vụ Tổng hợp và Vụ Tổ chức cán bộ TANDTC rà soát, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng cán bộ thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong Quý III và Quý IV năm 2017.

– Học viện Tòa án tiếp tục rà soát, chuẩn hóa, hoàn thiện chương trình, giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy pháp luật, giáo dục công dân trong nhà trường theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng.

– Cổng Thông tin điện tử TANDTC, Báo công lý, Tạp chí Tòa án nhân dân xây dựng các chuyên trang, chuyên mục phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin báo chí.

Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động của Kế hoạch này được bố trí từ ngân sách nhà nước và dự toán trong kinh phí hoạt động hàng năm của TANDTC.

Theo Phạm Hằng (kiemsat.vn)