Chào mừng đến TRANG THÔNG TIN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH - Địa chỉ: 01 Trần Phú - TP Quy Nhơn - tỉnh Bình Định. Điện thoại: 056.3822294 - 08056011. Email: vpubbinhdinh@vpub.binhdinh.gov.vn
 

Tổng hợp Thông tin Chính sách 24-07 đến 28-07-2017

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH

1. Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 17-21/7

Kịp thời hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại do bão số 2; triển khai thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; Thủ tướng chỉ thị lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt; tiêu chí chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành cty cổ phần;... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 17-21/7/2017.

Kịp thời hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại do bão số 2

Tại Công điện số1025/CĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng kịp thời hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại do bão số 2, tập trung cứu chữa người bị thương, thăm hỏi, động viên, hỗ trợ gia đình có người bị thiệt mạng, hỗ trợ người dân ổn định đời sống, không để người dân bị thiếu đói. Tiếp tục rà soát, chủ động sơ tán người dân ra khỏi các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, các khu vực có nguy cơ ngập lụt để bảo đảm bảo an toàn...

Chủ động triển khai các biện pháp ứng phó mưa lũ tại Bắc Bộ

Trước tình hình mưa lớn xảy ra liên tiếp trên diện rộng tại các tỉnh Bắc Bộ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương chủ động triển khai các biện pháp ứng phó mưa lũ, hạn chế thiệt hại.

Triển khai thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng

Để triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả Nghị quyết 42/2017/QH14, Thủ tướng Chính phủyêu cầucác Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo triển khai kịp thời, hiệu quả các quy định tại Nghị quyết, đồng thời chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng; phát huy vai trò Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) trong xử lý nợ xấu; phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ xấu đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại yếu kém được Chính phủ phê duyệt xử lý theo phương án riêng)...

Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” nhằm tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống; giảm số lượng tổ chức tín dụng yếu kém để có số lượng các tổ chức tín dụng phù hợp, có quy mô và uy tín, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản.

Thủ tướng chỉ thị lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg về tăng cường công tác quản lý, lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt.

Theo đó, Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm lập và triển khai kế hoạch tháng cao điểm tuyên truyền, vận động thực hiện quy định pháp luật và xử lý vi phạm về hành lang ATGT đường bộ, đường sắt. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các địa phương, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam và các Sở Giao thông vận tải triển khai thực hiện kế hoạch. Trong đó, tập trung xử lý: Trông giữ xe trái phép, bán hàng, họp chợ trên lòng, lề đường; xây dựng lều quán, mái vẩy, xây bục bệ, đắp vuốt đi làm lối đi trên vỉa hè, vào nhà; lắp đặt biển quảng cáo, biển hiệu trong phạm vi bảo vệ công trình, hàng lang ATGT đường bộ, đường sắt; phá hoại công trình giao thông đường bộ, đường sắt; đấu nối trái phép vào quốc lộ...; tổ chức giải tỏa dứt điểm các trường hợp lấn chiếm, tái lấn chiếm đất trong phạm vi bảo vệ công trình, hành lang ATGT đường bộ, đường sắt, đất hành lang ATGT đã được bồi thường, đền bù.

Mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Nghị định82/2017/NĐ-CPquy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nêu rõ: Mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được quy định theo mục đích khai thác nước, có giá trị từ 0,1 - 2%. Cụ thể, khai thác nước dùng cho sản xuất thủy điện mức thu 1%; khai thác nước dùng cho kinh doanh, dịch vụ mức thu 2%; khai thác nước dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, trừ nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi mức thu 1,5%...

Quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy

Nghị định83/2017/NĐ-CPquy định về bố trí lực lượng và hoạt động cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy; nguyên tắc, quan hệ phối hợp, bảo đảm điều kiện và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tiêu chí chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành cty cổ phần

Theo Quyết định số31/2017/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển thành công ty cổ phần khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:

1- Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi;

2- Thuộc danh mục chuyển thành công ty cổ phần theo quy định;

3- Có phương án tiếp tục cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt.

Theo Chí Kiên (chinhphu.vn)

2. Rà soát các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báokết luậncủa Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại cuộc họp về việc xem xét bổ sung huyện nghèo theo Nghị quyết số30a/2008/NQ-CP.

Thông báo kết luận nêu rõ, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội nói chung và chính sách giảm nghèo bền vững nói riêng là mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Trong đó, chính sách giảm nghèo bền vững là một trong những chính sách cần được tập trung thực hiện trong hệ thống chính sách an sinh xã hội.

Thời gian qua, việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, một số chính sách đầu tư còn dàn trải, phân tán; một bộ phận dân cư, chính quyền địa phương còn ỷ lại, trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước, ngân sách cấp trên; kinh phí đối với các huyện nghèo, huyện hưởng cơ chế, chính sách theo huyện nghèo còn tập trung nhiều vào cơ sở hạ tầng, chưa quan tâm đúng mức đến tạo sinh kế cho người dân; chưa khuyến khích và đánh giá cao người dân nỗ lực vươn lên thoát nghèo.

Giai đoạn 2017-2020, trên cơ sở quy định tại Quyết định số2115/QĐ-TTgngày 7/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí huyện nghèo áp dụng cho giai đoạn 2017-2020, Phó Thủ tướng giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp, Ủy ban Dân tộc, Văn phòng Chính phủ và các địa phương thực hiện rà soát, đánh giá lại toàn diện việc thực hiện Nghị quyết 30a và các văn bản liên quan, báo cáo Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở đề xuất cho giai đoạn 2017-2020.

Các địa phương rà soát, báo cáo lại các tiêu chí quy định tại Quyết định số 2115/QĐ-TTg. Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo.

Thành lập Hội đồng thẩm định gồm thành viên là đại diện các Bộ, cơ quan nêu trên, mời Hội đồng Dân tộc của Quốc hội tham gia để rà soát, đánh giá, đề xuất các huyện tiếp tục được thực hiện, các huyện đưa ra khỏi danh sách thực hiện Nghị quyết 30a; các huyện được hưởng một số cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2017 bảo đảm nguyên tắc phù hợp với quy định tại Quyết định số 2115/QĐ-TTg, có tính đến đặc thù vùng miền; công khai, minh bạch; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung hơn vào hỗ trợ tạo sinh kế cho nhân dân; phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp, Ủy ban Dân tộc, Văn phòng Chính phủ và các địa phương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách huyện nghèo, huyện hưởng một số cơ chế, chính sách theo huyện nghèo giai đoạn 2017-2020.

Theo Minh Hiển (chinhphu.vn)

3. Chế độ đối với tổ chức, cá nhân tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định quy định chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

Trong đó, quy định chế độ, chính sách đối với đối tượng thuộc biên chế của các đội tìm kiếm, quy tập ở trong và ngoài nước.

Cụ thể, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên chức quốc phòng thuộc biên chế của các đội chuyên trách trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (sau đây gọi là đội tìm kiếm, quy tập) ở trong nước và ngoài nước trong thời gian trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, ngoài chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ theo quy định, khi làm nhiệm vụ ở nước ngoài còn được hưởng phụ cấp 100% mức tiền lương cấp bậc quân hàm hoặc ngạch, bậc hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm hiện hưởng đối với hạ sĩ quan, binh sĩ.

Bên cạnh đó, được hưởng phụ cấp khu vực mức 1,0 so với mức lương cơ sở; phụ cấp trách nhiệm mức 0,5 so với mức lương cơ sở; bồi dưỡng trực tiếp làm nhiệm vụ khảo sát, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ mức 220.000 đồng/người/ngày thực tế làm nhiệm vụ. Trong thời gian làm nhiệm vụ nếu hưởng tiền bồi dưỡng thì thôi hưởng chế độ công tác phí...

Các đối tượng nêu trên khi làm nhiệm vụ trong nước được hưởng phụ cấp trách nhiệm mức 0,5 so với mức lương cơ sở; bồi dưỡng trực tiếp làm nhiệm vụ khảo sát, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ mức 100.000 đồng/người/ngày thực tế làm nhiệm vụ. Trong thời gian làm nhiệm vụ nếu hưởng tiền bồi dưỡng thì thôi hưởng chế độ công tác phí; bồi dưỡng sức khỏe mức 280.000 đồng/người (không quá 2 lần/năm)...

Quyết định cũng quy định chế độ chính sách đối với thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Công tác đặc biệt, Ủy ban Chuyên trách các cấp.

Chế độ đối với người trực tiếp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ

Ngoài ra, Quyết định cũng quy định chế độ, chính sách đối với người được cấp có thẩm quyền huy động trực tiếp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; người cung cấp thông tin về liệt sĩ; hỗ trợ thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ.

Cụ thể, người được cấp có thẩm quyền huy động trực tiếp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (người dẫn đường, bảo vệ; tham gia trực tiếp các hoạt động tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ) được hưởng mức 220.000 đồng/người/ngày thực tế được huy động làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở ngoài nước; mức 100.000 đồng/người/ngày thực tế được huy động làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở  trong nước.

Bên cạnh đó, được bảo đảm tiền ăn bằng 2 lần mức tiền ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh; được cấp tiền mua trang phục chuyên dùng, nếu có thời gian trực tiếp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ ba 3 tháng trở lên; được bố trí phương tiện đi lại hoặc thanh toán tiền đi lại như quy định đối với cán bộ, công chức đi công tác; trường hợp bị thương, bị bệnh phải điều trị tại các cơ sở y tế được thanh toán viện phí, chi phí chuyển thương.

Người cung cấp thông tin về liệt sĩ được bồi dưỡng mức 2.000.000 đồng/đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được ít nhất là 1 hài cốt liệt sĩ; những người có thành tích xuất sắc được khen thưởng theo quy định.

Thân nhân của liệt sĩ hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 64 Nghị định số31/2013/NĐ-CPquy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn khi đến các đơn vị, địa phương (nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu), với số lượng không quá 3 người, mỗi năm 1 lần.

Mức hỗ trợ được thực hiện như đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 64 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP.

Theo nguoicocong.gov.vn

4. Thêm 313.707 hộ gia đình có công được hỗ trợ nhà ở

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 63/NQ-CP về việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể, Chính phủ quyết nghị tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng giai đoạn 2 theo quy định tại Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ. Phê duyệt số lượng hộ gia đình được hỗ trợ về nhà ở trong giai đoạn 2 là 313.707 hộ; kinh phí cần bổ sung thêm từ nguồn ngân sách Trung ương khoảng 840 tỷ đồng (ngoài 7.300 tỷ đồng đã được bố trí).

Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính phân bổ toàn bộ vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương (100%) để hỗ trợ nhà ở cho các hộ gia đình có công với cách mạng giai đoạn 2 theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ (theo số liệu đã được Bộ LĐ-TB&XH thẩm tra); căn cứ Đề án và kế hoạch hỗ trợ đã được phê duyệt của các địa phương, đề xuất ứng vốn nhằm hoàn thành dứt điểm việc thực hiện hỗ trợ nhà ở cho người có công trong 2 năm (2017-2018). 

Chính phủ giao UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào quy định về thứ tự ưu tiên theo hướng dẫn tại Thông tư số 09/TT-BXD ngày 1-7-2013 của Bộ Xây dựng để chủ động xác định đối tượng ưu tiên bố trí kinh phí hỗ trợ cho phù hợp với thực tế của địa phương; đối với các địa phương có khả năng ứng trước kinh phí từ ngân sách địa phương để thực hiện hỗ trợ dứt điểm giai đoạn 2 của Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ trong năm 2017 thì chủ động cân đối, bố trí kinh phí hỗ trợ.

Theo Minh Hiển (anninhthudo.vn)

5. Xử lý nghiêm vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm

Bộ Y tế đang dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Trong đó, Bộ đề xuất tăng nặng mức phạt chính và bổ sung các hình thức xử phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy, đình chỉ hoạt động có thời hạn), biện pháp khắc phục hậu quả (buộc tiêu hủy hàng hóa gây hại cho sức khỏe con người).

Bộ Y tế cho biết, Nghị định 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (Nghị định 178/2013/NĐ-CP) được ban hành và có hiệu lực từ ngày 31/12/2013. Trong thời gian qua, việc triển khai thi hành Nghị định 178/2013/NĐ-CP đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (ATTP), tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc đấu tranh, phòng chống các hành vi vi phạm hành chính (VPHC) về ATTP, góp phần đưa Luật ATTP và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật ATTP vào cuộc sống.

Các hành vi VPHC quy định tại Nghị định 178/2013/NĐ-CP tương đối đầy đủ; chế tài xử phạt rõ ràng, minh bạch, góp phần quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương duy trì và bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước về ATTP. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị định 178/2013/NĐ-CP đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Cụ thể,thứ nhất, Quốc hội thông qua Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự trong đó có nhiều nội dung mới, tác động trực tiếp tới hoạt động xử phạt VPHC về ATTP.

Thứ hai,ngày 19/6/2015, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 trong đó đã khẳng định nguyên tắc và quy định nội dung về phân cấp, phân quyền hợp lý giữa Chính phủ với chính quyền địa phương (khoản 4 Điều 5; Điều 25), do vậy dự thảo Nghị định cố gắng tối đa việc phân định thẩm quyền xử phạt của Bộ, ngành trong dự thảo Nghị định theo chỉ đạo của Chính phủ.

Thứ ba,một số quy định trong Nghị định 178/2013/NĐ-CP chưa đủ sức răn đe, do vậy, dự thảo Nghị định theo hướng tăng nặng mức phạt chính và bổ sung các hình thức xử phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy, đình chỉ hoạt động có thời hạn), biện pháp khắc phục hậu quả (buộc tiêu hủy hàng hóa gây hại cho sức khỏe con người). Các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả quy định một cách nghiêm minh, chặt chẽ với mức xử phạt cao nhất mà pháp luật cho phép. Đồng thời,  hạn chế quy định hình thức xử phạt cảnh cáo, trường hợp có quy định hình thức xử phạt cảnh cáo cần quy định rõ cho từng hành vi cụ thể, tách riêng ra khỏi hình thức phạt tiền.

Thứ tư,một số hành vi vi phạm hành chính khác liên quan đến an toàn thực phẩm được quy định tại các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về ghi nhãn, chất lượng, quảng cáo sản phẩm cần tích hợp đưa vào Nghị định này cho phù hợp với xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm.

Từ các lý do nêu trên và số lượng các hành vi dự kiến sửa đổi, bổ sung nhiều, do vậy, việc nghiên cứu, ban hành Nghị định thay thế Nghị định 178/2013/NĐ-CP (thay cho hình thức Nghị định sửa đổi, bổ sung) là rất cần thiết.

Bộ Y tế đã dự thảo Nghị định gồm 4 chương, 51 điều, bên cạnh những quy định chung, dự thảo đã đề xuất những quy định xử phạt quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; vi phạm quy định chất lượng sản phẩm thực phẩm…

Theo Tuệ Văn (baochinhphu.vn)

6. Đề xuất mới về thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm xuất khẩu

Nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định chi tiết một số trường hợp không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và được áp dụng thuế GTGT 0% khi xuất khẩu.

Đó  là những nội dung trọng tâm được Bộ Tài chính đề xuất tại Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2016/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế.

Theo đó, Bộ Tài chính kiến nghị những trường hợp cụ thể như sau:

Một là, sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên, trừ các trường hợp sau:

Hai là, sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật số 13/2008/QH12.

Ba là, sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật số 13/2008/QH12.

Bốn là, sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật số 13/2008/QH12.”.

Bộ Tài chính đề xuất về việc không hoàn thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu sau đó xuất khẩu, để phù hợp với thực tế và khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định chi tiết tại dự thảo Nghị định như sau: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất bán vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài hoặc xuất trả lại chủ hàng thì thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật hải quan và các văn bản hướng dẫn.

Theo PV(tapchitaichinh.vn)

7. Quy định mới về thăng hạng chức danh nghề nghiệp trong trường đại học

Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 18/2017/TT-BGDĐT quy định điều kiện, nội dung, hình thức thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Thông tư này quy định điều kiện, nội dung, hình thức thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập từ giảng viên (hạng III) lên giảng viên chính (hạng II) và từ giảng viên chính (hạng II) lên giảng viên cao cấp (hạng I).

Thông tư này áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập tham dự kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp; tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đối với viên chức giảng dạy trong các trường cao đẳng sư phạm công lập được áp dụng quy định tại Thông tư này để tham gia dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp.

Theo Thông tư viên chức được cử đi dự thi thăng hạng nghề nghiệp giảng viên phải có đủ các điều kiện sau:

Cơ sở giáo dục đại học công lập có nhu cầu và được cấp có thẩm quyền cử đi dự thi.

Đang giữ chức danh nghề nghiệp giảng viên (hạng III), mã số V.07.01.03 đối với viên chức đăng ký dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp giảng viên chính (hạng II), mã số V.07.01.02; đang giữ chức danh nghề nghiệp giảng viên chính (hạng II), mã số V.07.01.02 đối với viên chức đăng ký dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp giảng viên cao cấp (hạng I), mã số V.07.01.01. 

Được thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học đánh giá có đủ phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp; hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian 03 (ba) năm liên tục tính đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ dự thi; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật hoặc đã có thông báo về việc xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

Có đủ tiêu chuẩn của hạng chức danh nghề nghiệp đăng ký dự thi theo quy định tại Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Miễn thi ngoại ngữ đối với viên chức thuộc một trong các trường hợp sau:

Đã học tập, nghiên cứu toàn thời gian ở nước ngoài và được cấp bằng đại học, bằng thạc sĩ hoặc bằng tiến sĩ của cơ sở đào tạo nước ngoài sử dụng một trong các ngôn ngữ Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc trong đào tạo; văn bằng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định hiện hành.

Đã có bằng tốt nghiệp đại học thứ hai là bằng ngoại ngữ thuộc một trong các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc.

Đã có chứng chỉ ngoại ngữ Bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (B1 theo Khung tham chiếu chung Châu Âu) hoặc có chứng chỉ Tiếng Anh quốc tế TOEFL PBT 450 điểm, TOEFL CBT 133 điểm, TOEFL iBT 45 điểm, IELTS 4,5 điểm trở lên đối với thi thăng hạng giảng viên (hạng III) lên giảng viên chính (hạng II); chứng chỉ ngoại ngữ Bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (B2 theo Khung tham chiếu chung Châu Âu) hoặc có chứng chỉ Tiếng Anh quốc tế TOEFL PBT 500 điểm, TOEFL CBT 173 điểm, TOEFL iBT 61 điểm, IELTS 5,5 điểm trở lên đối với thi thăng hạng giảng viên chính (hạng II) lên giảng viên cao cấp (hạng I).

 Các chứng chỉ ngoại ngữ quy định tại điểm này còn trong thời hạn 02 năm (24 tháng) tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi.

 Đối với giảng viên chuyên ngành ngôn ngữ nước ngoài thì các quy định miễn thi ngoại ngữ tại khoản 1 Điều này phải là ngôn ngữ khác với chuyên ngành ngôn ngữ nước ngoài đang giảng dạy.

Miễn thi tin học trong kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp

 Miễn thi tin học đối với viên chức đã tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành tin học hoặc công nghệ thông tin trở lên.

Viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập tham dự kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp được tổ chức trước ngày 31 tháng 12 năm 2018 chưa yêu cầu phải có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày công bố kết quả thi thăng hạng thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý, sử dụng viên chức phải có trách nhiệm cử viên chức đã tham dự kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập tham dự khóa bồi dưỡng để hoàn chỉnh tiêu chuẩn của hạng chức danh nghề nghiệp dự thi.

Trường hợp viên chức được cử đi bồi dưỡng để hoàn chỉnh tiêu chuẩn của hạng chức danh nghề nghiệp dự thi mà không tham gia khóa bồi dưỡng hoặc kết quả học tập không đạt yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền không bổ nhiệm viên chức vào hạng chức danh nghề nghiệp trúng tuyển trong kỳ thi thăng hạng và không bảo lưu kết quả kỳ thi đã tham dự.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 9 năm 2017.

Theo giaoducthoidai.vn

8. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

Doanh nghiệp có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư, ưu đãi đầu tư và khuyến khích đầu tư được Nhà nước giao đất làm nhà ở cho người lao động (gồm cả đất trồng cây xanh phục vụ lợi ích công cộng) theo quy định tại Điều 55 Luật đất đai 2013 thì được miễn tiền sử dụng đất cho diện tích đất đó.

Đây là đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại dự thảo Nghị định về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Dự thảo nêu rõ về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất. Theo đó, doanh nghiệp có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư được miễn nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được chuyển mục đích để thực hiện dự án theo quy định tại Nghị định này.

Doanh nghiệp có dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư được giảm 70% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được chuyển mục đích để thực hiện dự án theo quy định tại Nghị định này

Về miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước, dự thảo đề xuất, doanh nghiệp có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày dự án hoàn thành đi vào hoạt động.

Doanh nghiệp có dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 15 năm đầu kể từ ngày dự án hoàn thành đi vào hoạt động và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 7 năm tiếp theo.

Doanh nghiệp có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư được miễn tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở cho công nhân, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (đất xây dựng nhà xưởng, kho chứa, sân phơi, đường giao thông,…) trong thời gian thực hiện dự án và được miễn thủ tục chuyển mục đích sử dụng cho diện tích đất này.

Hỗ trợ đặc biệt cho nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ

Theo dự thảo, doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí mua bản quyền công nghệ, mua công nghệ hoặc mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hoặc thực hiện đề tài nghiên cứu; nhằm tạo ra sản phẩm mới, cải tiến công nghệ, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, tiết kiệm năng lượng, thuê chuyên gia; mức hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng/đề tài/bản quyền/thuê chuyên gia, như sau: 90% kinh phí đối với dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; 80% kinh phí đối với dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư và dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư.

Điều kiện hỗ trợ là doanh nghiệp có doanh thu năm trước tối thiểu bằng 10 lần mức hỗ trợ (không áp dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo); doanh nghiệp hợp đồng đặt hàng với các nhà khoa học đã và đang công tác tại các trường, viện nghiên cứu để thực hiện đề tài.

Doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí đầu tư thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm sản phẩm mới, áp dụng công nghệ mới, mức không quá 5 tỷ đồng/dự án, như sau: 70% kinh phí đối với dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; 50% kinh phí đối với dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư và dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư.

Doanh nghiệp có dự án nhân giống cây trồng bằng công nghệ nuôi cấy mô được nhận mức hỗ trợ 80% kinh phí đầu tư nhưng không quá 5 tỷ đồng/dự án.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối vớidự thảonày tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ.

Theo Lan Phương (baochinhphu.vn)

9. Quy chế tiếp nhận, trả lời kiến nghị của cử tri

Thủ tướng Chính phủ vừaban hànhQuy chế tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến.

Theo nguyên tắc, kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến phải được các bộ, cơ quan, địa phương tiếp nhận, giải quyết, trả lời theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan, địa phương trong quá trình giải quyết.

Việc tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyến đến là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình công tác của các bộ, cơ quan, địa phương; là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu các bộ, cơ quan và chính quyền địa phương.

Các bộ, cơ quan, địa phương tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị phải bảo đảm dân chủ, khách quan, đầy đủ, đúng trọng tâm, báo cáo kết quả với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Quy chế quy định rõ trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ở trung ương và chính quyền địa phương trong việc giải quyết, trả lời, báo cáo kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri.

Theo quy định, người đứng đầu các bộ, cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri đúng quy định của pháp luật và quy định của Quy chế; báo cáo tổng hợp đầy đủ về kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức liên quan.

Các bộ, cơ quan được giao chủ trì giải quyết, trả lời kiến nghị phải chủ động, thường xuyên phối hợp, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị đã được giao cho cơ quan mình và các cơ quan phối hợp, không để kiến nghị tồn đọng, kéo dài.

Đối với kiến nghị liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của nhiều bộ, cơ quan, địa phương được giao cho một bộ, cơ quan chủ trì nghiên cứu giải quyết, trả lời. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được kiến nghị, bộ, cơ quan được giao chủ trì giải quyết, trả lời phải có văn bản gửi đến bộ, cơ quan, địa phương có liên quan đề nghị phối hợp giải quyết, trả lời kiến nghị.

Các bộ, cơ quan, địa phương được giao phối hợp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì để giải quyết, trả lời cử tri, trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị phối hợp của bộ, cơ quan chủ trì, bộ, cơ quan, địa phương được đề nghị phối hợp phải có văn bản trả lời gửi đến bộ, cơ quan chủ trì giải quyết, trả lời cử tri theo đúng quy định của pháp luật và của Quy chế.

Đối với các kiến nghị mà việc giải quyết liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương, vượt quá khả năng, điều kiện hoặc có khó khăn, vướng mắc thì bộ, cơ quan được giao chủ trì phải chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị phải có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ (thông qua Văn phòng Chính phủ) để xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.

Đối với các kiến nghị có nội dung trùng lặp thì bộ, cơ quan tiếp nhận, giải quyết, trả lời và thông báo kết quả giải quyết bằng một văn bản đồng thời gửi đến tất cả Đoàn Đại biểu Quốc hội có kiến nghị trùng lặp và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định...

Văn phòng Chính phủ giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết, trả lời kiến nghị của các bộ, cơ quan, địa phương; đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri đã được Thủ tướng Chính phủ giao, Ban Dân nguyện chuyển đến và Đoàn Đại biểu Quốc hội chuyển trực tiếp đến các cơ quan ở địa phương; giúp Chính phủ xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri của kỳ họp Quốc hội gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo Phương Nhi (chinhphu.vn)

10. Đề xuất điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện

Tại dự thảo Nghị định quy định về bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã đề xuất điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, tương tự như bảo hiểm xã hội bắt buộc, dự thảo đề xuất quy định các trường hợp tai nạn lao động được hưởng và không được hưởng chế độ bảo hiểm. Tai nạn lao động được xác định trên cơ sở quy định tại Khoản 8 Điều 3 của Luật An toàn, vệ sinh lao động “là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.

Ngoài ra, dự thảo đề xuất bổ sung thêm quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu 12 tháng mới được hưởng các chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện. Quy định này nhằm góp phần bảo đảm cân đối giữa thu, chi, nhất là khi bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện mới hình thành, chủ yếu là người có nguy cơ cao về tai nạn lao động tham gia.

Cụ thể, người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động gồm: Giám định mức suy giảm khả năng lao động; trợ cấp một lần, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp phục vụ; hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp; dưỡng sức và phục hồi sức khỏe; hỗ trợ chi phí y tế khi có đủ các điều kiện sau đây:

1- Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn lao động trong thời gian tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện;

2- Có thời gian tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện cộng dồn từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm bị tai nạn; hoặc trước thời điểm bị tai nạn đã có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cộng dồn từ đủ 12 tháng trở lên và không bị tai nạn lao động, không được hưởng chế độ tai nạn lao động trong thời gian đó.

Người lao động không được hưởng các chế độ trên nếu tai nạn xảy ra do một trong các nguyên nhân sau: 1- Mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến công việc, nhiệm vụ lao động; 2- Người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; 3- Sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện từ 12 tháng liên tục trở lên được xem xét hưởng chế độ hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động.

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn