Chào mừng đến TRANG THÔNG TIN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH - Địa chỉ: 01 Trần Phú - TP Quy Nhơn - tỉnh Bình Định. Điện thoại: 056.3822294 - 08056011. Email: vpubbinhdinh@vpub.binhdinh.gov.vn
 

Tổng hợp Thông tin Chính sách 21-08 đến 25-08-2017

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH

1. Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 14-18/8

Thủ tướng chỉ đạo thực hiện giải pháp phát triển KTXH; đảm bảo ATGT dịp Lễ 2/9 và khai giảng năm học mới; khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng tại Bình Định... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 14-18/8/2017.

Thủ tướng chỉ đạo thực hiện giải pháp phát triển KTXH

Để bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 đã đề ra, Thủ tướng Chính phủ có một loại văn bản yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thuộc lĩnh vực phụ trách đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tại các Nghị quyết của Chính phủ và Chỉ thị số24/CT-TTgngày 2/6/2017.

Tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ Chính phủ giao

Để tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao nhằm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 đã đề ra, nhất là chỉ tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), Thủ tướng Chính phủgiaoTổ công tác của Thủ tướng Chính phủ thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng giao cho các Bộ, ngành, địa phương; trong đó chú trọng việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng của các Bộ, ngành, địa phương, báo cáo Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ hàng tháng.

Đảm bảo ATGT dịp Lễ 2/9 và khai giảng năm học mới

Thủ tướng Chính phủ có Công điện1224/CĐ-TTgyêu cầu các Bộ: Công an, Giao thông vận tải, Giáo dục và Đào tạo, Thông tin và Truyền thông, Lao động - Thương binh và Xã hội; Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ thẩm quyền, trách nhiệm được giao, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong thời gian Lễ Quốc khánh 02/9 và khai giảng năm học mới 2017 - 2018.

Miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công Thương đối với bà Hồ Thị Kim Thoa

Tại Quyết định1203/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công Thương đối với bà Hồ Thị Kim Thoa.

Kỷ luật 4 cá nhân liên quan đến Dự án Formosa Hà Tĩnh

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thi hành kỷ luật 4 cá nhân nguyên là lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND tỉnh Hà Tĩnh do đã có những vi phạm liên quan đến Dự án Formosa Hà Tĩnh gây ra sự cố môi trường rất nghiêm trọng tại 4 tỉnh miền Trung.

Cụ thể, tại Quyết định1199/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Tại Quyết định1201/QĐ-TTg, Quyết định1202/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2011- 2015 đối với ông Nguyễn Thái Lai và ông Bùi Cách Tuyến.

Tại Quyết định1200/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2005 - 2010 và nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2010 - 2015 đối với ông Võ Kim Cự.

Chức năng, cơ cấu tổ chức 4 Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Trong tuần, Chính phủ đã ban hành Nghị định số95/2017/NĐ-CPquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ; Nghị định96/2017/NĐ-CPquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Nghị định 98/2017/NĐ-CPquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương; Nghị định số99/2017/NĐ-CPquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu

Thủ tướng Chính phủ đãphê duyệtLộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu phấn đấu đưa dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 45% GDP vào năm 2020 và khoảng 65% GDP vào năm 2030, trong đó dư nợ thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương đạt khoảng 38% GDP vào năm 2020 và khoảng 45% GDP vào năm 2030, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 7% GDP vào năm 2020 và khoảng 20% GDP vào năm 2030.

Phó Thủ tướng chỉ đạo khắc phục hậu quả vụ TNGT làm 5 người chết

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia đã có công điện chỉ đạo khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại Bình Định.

Trong công điện, Phó Thủ tướng yêu cầu Công an tỉnh khẩn trương điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn và xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm gây ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng này.

Theo Phương Nhi (chinhphu.vn)

2. Bộ Giáo dục chính thức dừng tổ chức cấp chứng chỉ ngoại ngữ ngoài nhà trường

Bộ Giáo dục yêu cầu tạm dừng việc tổ chức thi cấp chứng chỉ ngoại ngữ cho người không phải là giáo viên theo Đề án 2020.

Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo - Phạm Mạnh Hùng giữa tháng 7 đã ký công văn gửi Cục Quản lý chất lượng, Ban quản lý Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 (Đề án 2020) và 10 đơn vị được giao tổ chức đánh giánăng lực ngoại ngữ.

Văn bản nêu rõ yêu cầu tạm dừng việc tổ chức thi cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ ngoài nhà trường cho những người không phải là giáo viên dạy ngoại ngữ.

Quyết định này được đưa ra sau lần Bộ thanh tra đột xuất việc ôn tập, thi, đánh giá năng lực ngoại ngữ tổ chức tại Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà (Bắc Ninh) vào tháng 4, phát hiện nhiều sai phạm.

Trường Bắc Hà đã liên kết với Đại học Vinh (Nghệ An) tổ chức ôn tập và thi cấp chứng chỉ tiếng Anh cho nhiều người không phải học viên của trường.

Quá trình thi, Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà chỉ có một giám thị phụ trách coi 5-7 phòng không liền nhau, thí sinh thay vì được thi nói tối thiểu 10 phút như quy định của Bộ thì chỉ được 4 phút...

Theo đề nghị của đơn vị thanh tra, Thứ trưởng Phạm Mạnh Hùng đã yêu cầu Cục Quản lý chất lượng tham mưu, hoàn thiện và trình Bộ trưởng ban hành Quy chế thi đánh giá năng lực ngoại ngữ theo khung Năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

Quy chế này sẽ quy định cụ thể các điều kiện, tiêu chuẩn đối với đơn vị tổ chức thi để đảm bảo chất lượng và có thể kiểm chứng khi cần thiết, tránh độc quyền.

Cục Quản lý chất lượng phối hợp hướng dẫn cụ thể việc tổ chức ôn tập, thi đánh giá theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, đối với những người ngoài Đề án 2020.

Đối với Ban quản lý Đề án 2020, Bộ yêu cầu rà soát tổng thể 10 đơn vị được giao tổ chức đánh giá năng lực ngoại ngữ trong và ngoài nhà trường trong ba năm qua, tổ chức sơ kết, đánh giá kịp thời để chấn chỉnh, nâng cao chất lượng bồi dưỡng.

10 đơn vị này bao gồm: Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội); Đại học Hà Nội; Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng; Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế; Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Sư phạm Hà Nội; Đại học Cần Thơ; trung tâm Semeo Retrac; Đại học Vinh và Đại học Thái Nguyên.

Theo Linh An (giaoduc.net.vn)

3. Ban hành danh mục doanh nghiệp Nhà nước sẽ thoái vốn tới năm 2020

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký Quyết định số 1232/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục doanh nghiệp (DN) mà Nhà nước sẽ thực hiện thoái vốn và tỉ lệ thoái vốn tối thiểu theo từng năm của DN có vốn Nhà nước giai đoạn 2017-2020.

Mục đích của việc ban hành Danh mục này nhằm đẩy nhanh tiến độ bán vốn Nhà nước tại các DN mà Nhà nước không cần nắm giữ gắn với việc bảo đảm nguồn thu cho phù hợp với Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; thúc đẩy quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) để tập trung vào những khâu, công đoạn then chốt của nền kinh tế.

Tổng số lượt DN mà Nhà nước sẽ thoái vốn là 406 lượt DN, được chia ra theo từng năm để các bộ, địa phương thực hiện thoái vốn. Cụ thể, năm 2017 phải thoái ở 135 DN, năm 2018 thoái ở 181 DN, năm 2019 thoái ở 62 DN và năm 2020 thoái ở 28 DN. Trong danh sách này, có một số DN sẽ thoái vốn vài đợt trong khoảng thời gian này.

Điểm qua một số DNNN lớn trong danh sách này cho thấy, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (thuộc Bộ Công Thương) phải thoái 52,47% tỉ lệ vốn tối thiểu (so với vốn điều lệ) trong năm 2017 và tới năm 2020 DN này sẽ phải thoái tiếp 36% nữa.

Ở Bộ Giao thông vận tải, Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam cũng phải thoái vốn hai lần. Lần đầu tiên sẽ thoái 20% tỉ lệ vốn tối thiểu vào năm 2018 và tới năm 2020 sẽ thoái tiếp 10,40%. Còn Tổng Công ty Hàng không Việt Nam sẽ thoái một lần, tối thiểu 35,16% vào năm 2019…

Để thực hiện thành công Quyết định, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết liệt tổ chức thực hiện thoái vốn theo tiến độ và tỉ lệ đã được phê duyệt tại Danh mục kèm theo Quyết định này theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ thoái vốn Nhà nước theo Quyết định này; rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ bổ sung kịp thời việc thoái vốn Nhà nước tại các DN chưa có trong Danh.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu người đứng đầu bộ, ngành, địa phương chủ động căn cứ tình hình thị trường và thực tế tại DN để đẩy nhanh tiến độ và tăng tỉ lệ thoái vốn so với tỉ lệ tối thiểu hằng năm đã được phê duyệt; bổ sung thêm DN thực hiện thoái vốn sớm hơn nhưng cần bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu người đứng đầu bộ, địa phương nghiêm túc thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước về Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đối với các DN thuộc diện chuyển giao theo quy định của pháp luật. Sau khi tiếp nhận, SCIC có trách nhiệm thực hiện thoái vốn theo Quyết định này.

Trước ngày 25 tháng cuối của quý và trước ngày 25/12 hằng năm, gửi báo cáo về tình hình triển khai thực hiện đến Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, theo dõi.

Đối với một số DN đặc thù hoặc có quy mô lớn sẽ thực hiện theo Quyết định riêng của cấp có thẩm quyền. Đó là các công ty nông, lâm nghiệp và các công ty con và công ty liên kết của tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước chưa thực hiện cổ phần hóa; DN thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, UBND TPHCM, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước; Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội; Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn; Bệnh viện Giao thông vận tải; Công ty TNHH Truyền hình số vệ tinh Việt Nam; Công ty Đầu tư Tháp truyền hình Việt Nam.

Trước đó, trong buổi họp tuần trước về danh mục này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết riêng năm 2017, tổng số vốn phải thoái vốn là 60.000 tỷ đồng để bảo đảm nguồn thu từ cổ phần hoá. Dự kiến, trong 6 tháng cuối năm, các DN sẽ thoái theo mệnh giá là hơn 19.779 tỷ đồng (tính sơ bộ theo giá trị niêm yết có thể mang lại tới gần 30.000 tỷ đồng).

Với 406 lượt DNNN phải thoái vốn từ nay tới năm 2020, tổng số vốn dự kiến thoái theo mệnh giá là khoảng 65.000 tỷ đồng.

Phó Cục trưởng Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) Đặng Quyết Tiến cho rằng, việc công bố là giải pháp quan trọng để các nhà đầu tư ngắm tới. Trước đây, Chính phủ chưa công bố nên các nhà đầu tư phải chờ đợi nhỏ giọt trong từng trường hợp cổ phần hoá, bán vốn tại DN cụ thể nên không hiệu quả cho cả hai bên. Giờ công bố rõ ràng ra thì nhà đầu tư nhìn thấy tổng thể các DNNN cần cổ phần hoá, bán vốn nên có nhiều lựa chọn để người ta tiếp cận ngay. Tôi cho rằng đây là giải pháp căn cơ để đẩy nhanh và đạt được hiệu quả cao trong quản trị DN của quá trình cổ phần hoá, bán vốn.

Theo Thành Chung (chinhphu.vn)

4. Bộ Nội vụ đề xuất giảm cán bộ, công chức cấp xã

Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến vào dự thảo Nghị định đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 5-12-2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn.
Cụ thể, Bộ Nội vụ đề nghị sửa đổi quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã theo hướng 5 chức danh công chức cấp xã được quy định phù hợp với các yếu tố đặc thù nông thôn, đô thị, hải đảo (quy định trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tối thiểu là trung cấp, nâng một bậc so với hiện hành). 

Dự thảo Nghị định cũng đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22-10-2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Bộ Nội vụ đề xuất 2 phương án. Phương án 1: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã loại 1 được giữ nguyên, giảm 1 người ở cấp xã loại 2 và 3. Theo phương án này sẽ giảm khoảng 7.698 cán bộ, công chức. Phương án 2: Số lượng cán bộ, công chức ở cấp xã loại 1, loại 2 được giữ nguyên, giảm 1 người ở cấp xã loại 3. Phương án này giảm khoảng 2.003 cán bộ, công chức.

Theo Phong Thu (hanoimoi.com.vn)

5. Quy định mới về thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên

Các tiêu chuẩn, điều kiện, nội dung, hình thức thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập vừa được quy định tại Thông tư số 20/2017/TT-BGDĐT ban hành ngày 18/8.

Thông tư có 3 chương và 10 điều, quy định các vấn đề liên quan đến thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập từ hạng IV lên hạng III, hạng III lên hạng II và hạng II lên I.

Đối tượng áp dụng dành cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục (sau đây gọi chung là giáo viên) đang làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên biệt công lập hoặc đang giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên trong các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh/cấp huyện, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục) và đã được xếp hạng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên; các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Giáo viên dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện bao gồm:

- Cơ sở giáo dục có nhu cầu về vị trí làm việc của chức danh nghề nghiệp ở hạng đăng ký dự thi và được cấp có thẩm quyền cử đi dự thi.

- Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong thời gian công tác 3 năm liên tục tính đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ dự thi..

- Có đủ trình độ đào tạo, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chức danh nghề nghiệp ở hạng đăng ký dự thi.

Giáo viên dự bị đại học khi áp dụng Thông tư này để dự thi thăng hạng phải có đủ trình độ đào tạo, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của chức danh nghề nghiệp ở hạng đăng ký dự thi theo quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên dự bị đại học do Bộ GD-ĐT ban hành.

Giáo viên tham dự kỳ thi thăng hạng đều phải tham dự 4 môn thi: kiến thức chung, chuyên môn, nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ (trừ những trường hợp được miễn thi ngoại ngữ và tin học).

Việc thi chuyên môn, nghiệp vụ đối với kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên từ hạng II lên I được thực hiện theo hình thức thuyết trình và phỏng vấn trực tiếp. Giáo viên dự thi chuẩn bị báo cáo theo hướng dẫn về nội dung thi, thuyết trình (tối đa 15 phút) và tham gia phỏng vấn trực tiếp (tối đa 15 phút).

Những nội dung còn lại sẽ có các hình thức thi khác nhau (tự luận/trắc nghiệm/kết luận giữa tự luận và trắc nghiêm/thực hành…). Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi thăng hạng quyết định lựa chọn hình thức thi phù hợp.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 3/10/2017 và thay thế Thông tư số 34/2010/TT-BGDĐT ngày 8/12/2010 của Bộ GD&ĐT quy định về nội dung, hình thức thi nâng ngạch giáo viên trung học cao cấp.

Theo Song Nguyên (vietnamnet.vn)

6. Đề xuất giảm thuế nhập khẩu linh kiện ô tô từ năm 2018 – 2022

Bộ Tài chính vừa đề xuất giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với linh kiện ô tô nhập khẩu theo chương trình ưu đãi thuế từ năm 2018- 2022, để lắp ráp cho nhóm xe chở người dưới 9 chỗ và xe tải có tổng trọng lượng có tải từ 5 tấn trở xuống.

Cụ thể, giảm thuế nhập khẩu đối với linh kiện ô tô nhập khẩu trong 05 năm từ năm 2018-2022, có kèm theo điều kiện về sản lượng xe sản xuất lắp ráp (sản lượng chung cho các mẫu xe và sản lượng riêng cho một mẫu xe mà 1 doanh nghiệp tham gia chương trình cam kết phải đạt được hàng năm) và tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước của mẫu xe cam kết phải đạt được hàng năm, để lắp ráp cho 02 nhóm xe là: (1) Nhóm xe chở người dưới 9 chỗ, có dung tích xi lanh từ 2.000 cc trở xuống, tiêu hao nhiên liệu dưới 7lít/100km, tiêu chuẩn khí thải mức 4 (giai đoạn 2018-2021), mức 5 từ năm 2022 trở đi; và (2) Nhóm xe tải có tổng trọng lượng có tải từ 5 tấn trở xuống, tiêu chuẩn khí thải mức 4 (giai đoạn 2018-2021), mức 5 từ năm 2022 trở đi.

Bộ Tài chính đề xuất 02 phương án giảm thuế như sau:

Phương án 1: Giảm thuế suất thuế nhập khẩu MFN của 163 dòng thuế linh kiện ô tô nhập khẩu để lắp ráp cho 02 nhóm xe về 0%. Theo đó, giảm mức thuế suất trung bình của cả bộ linh kiện từ 14-16% xuống khoảng 7% đối với xe dưới 9 chỗ và khoảng 1% đối với xe tải dưới 5 tấn.

Phương án 2: Giảm thuế suất thuế nhập khẩu MFN của 19 dòng thuế linh kiện là động cơ, hộp số, cụm truyền động, bơm cao áp để lắp ráp cho 02 nhóm xe từ các mức 3%, 5%, 10%, 15% 18%, 20%, 25%, 30%, 32%, 45%, 50% xuống 0%(do đây là một số linh kiện, phụ tùng trong giai đoạn tới Việt Nam chưa thể sản xuất) và giảm thuế suất của 42 dòng thuế thuộc nhóm 8708 (bộ phận và phụ kiện của xe ô tô) để lắp ráp cho 02 nhóm xe nêu trên từ các mức 15%, 20% và 25% xuống 10%. Theo đó, giảm mức thuế suất trung bình của cả bộ linh kiện từ 14-16% xuống 9 – 11% đối với xe dưới 9 chỗ và 7,9% đối với xe tải dưới 5 tấn.

Theo Bộ Tài chính, về ưu điểm: Cả 02 phương án đều có các ưu điểm: Khuyến khích doanh nghiệp sản xuất lắp ráp (SXLR) ô tô được hưởng lợi thế từ Chương trình ưu đãi thuế giảm chi phí, giảm giá bán để nâng cao sự cạnh tranh so với xe ô tô nhập khẩu để tăng sản lượng tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Việc yêu cầu các doanh nghiệp cam kết về sản lượng chung tối thiểu cho các mẫu xe thuộc Chương trình sẽ phải sản xuất, lắp ráp hàng năm theo lộ trình sẽ vừa là điều kiện ràng buộc để bảo đảm ngành SXLR ô tô trong nước tăng được dung lượng thị trường với tỷ lệ tăng trưởng nhất định hàng năm, tạo động lực để các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư và phát triển sản xuất tại Việt Nam.

Đồng thời khuyến khích phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ thông qua việc tăng nhu cầu đối với linh kiện sản xuất trong nước.

So sánh 02 phương án, phương án 1 sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào nhiều hơn phương án 2, với mức độ ưu đãi thuế nhập khẩu cao hơn nên tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc đạt được sản lượng đề ra của Chương trình.

Nhược điểm của cả 02 phương án là một số doanh nghiệp không có chủ trương mở rộng sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam sẽ khó khăn do không được hưởng mức thuế suất 0% khi nhập khẩu bộ linh kiện để lắp ráp, các Công ty này sẽ thu hẹp sản lượng SXLR và dần chuyển sang nhập khẩu xe nguyên chiếc để kinh doanh thương mại. Theo đó, sẽ thu hẹp số lượng doanh nghiệp SXLR.

Theo KL (baochinhphu.vn)

7. Đề xuất điều kiện khó khăn về tài chính để được trợ giúp pháp lý

Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đã đề xuất quy định về điều kiện khó khăn về tài chính của người được trợ giúp pháp lý.

Bộ Tư pháp cho biết, quy định điều kiện có khó khăn về tài chính là một vấn đề mới trong pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu và để áp dụng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đưa ra căn cứ dựa trên thu nhập hàng tháng là "địa vị", tình trạng thường xuyên, lâu dài và không có cơ chế khác để được bảo vệ mình trước pháp luật của 8 nhóm người được quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật Trợ giúp pháp lý nhằm xác định điều kiện có khó khăn về tài chính. Mặt khác, việc quy định chi tiết về điều kiện có khó khăn về tài chính được đặt trong bối cảnh Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định 14 nhóm người thuộc diện được trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp ước tính có khoảng 40 triệu người).

Do đó, để bảo đảm tính khả thi quyền được trợ giúp pháp lý của người dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, dự thảo Nghị định đã đưa ra 2 điều kiện được coi là có khó khăn về tài chính như sau: Là người thuộc hộ cận nghèo hoặc là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Người thuộc hộ cận nghèo: Đây là điều kiện theo phương diện tiếp cận về thu nhập của người được trợ giúp pháp lý. Ước tính số lượng người thuộc hộ cận nghèo trong 8 nhóm theo quy định tại khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý có khoảng 1,1 triệu người.

Các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng: Đây là điều kiện theo phương diện tiếp cận chính sách an sinh xã hội cho một trong những nhóm người được hưởng chế độ bảo trợ xã hội. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số lượng người này khoảng 1,6 triệu người.

Như vậy, 8 nhóm người được quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật trợ giúp pháp lý phải đáp ứng 2 yêu cầu để được trợ giúp pháp lý: (1) Thuộc một trong tám nhóm người được quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật trợ giúp pháp lý; (2) Thuộc một trong hai điều kiện nêu trên. Dự kiến số lượng của 8 nhóm người có khó khăn về tài chính là khoảng 2,7 triệu người.

Ngoài ra, trong quá trình soạn thảo, cũng có một số ý kiến đề xuất bổ sung những người không thể tiếp cận được tài sản của mình hoặc của gia đình, người có khó khăn đột xuất... cũng thuộc trường hợp có điều kiện khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, theo Bộ Tư pháp, việc xác định điều kiện có khó khăn về tài chính để được hưởng trợ giúp pháp lý cần phải dựa trên các căn cứ về thu nhập và "địa vị", tình trạng như đã nêu trên, nhất là đặt trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn như hiện nay, số lượng người được trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã tăng lên rất nhiều so với hiện hành thì quy định như dự thảo Nghị định là phù hợp. Việc một số trường hợp rơi vào tình trạng có khó khăn nhưng chỉ mang tính chất ngắn hạn hoặc tạm thời sẽ được tiếp tục nghiên cứu mở rộng khi điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước phát triển hơn. Bên cạnh đó, việc đưa ra điều kiện có khó khăn về tài chính cũng nghiên cứu trên cơ sở có sự liên kết với các pháp luật có liên quan để việc tạo thuận lợi cho việc xác nhận các giấy tờ chứng minh tình trạng có khó khăn về tài chính theo các quy định của pháp luật đó.

Theo Tuệ Văn (baochinhphu.vn)

8. Thông tư 87/2017/TT-BTC: Kỳ vọng tạo sự thay đổi về 'chất' của công ty chứng khoán

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 87/2017/TT-BTC quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính, thay thế Thông tư số 226/2010/TT-BTC và Thông tư số 165/2012/TT-BTC trước đó.

Thông tư 87 khi có hiệu lực (10/10/2017) kỳ vọng sẽ tạo ra bước chuyển mới về số lượng cũng như chất lượng của các tổ chức kinh doanh chứng khoán (TCKDCK) hiện nay.

Sửa đổi để đáp ứng được “nhiều cái mới”

Sau gần 6 năm thực hiện, Thông tư 226/2010/TT-BTC và Thông tư 165/2012/TT-BTC (gọi chung là Thông tư 226) đã phát huy hiệu quả khi số lượng và chất lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán (TCKDCK) phát triển theo chiều hướng tích cực. Một số đánh giá cho thấy, bên cạnh nhiều giải pháp khác, Thông tư 226 góp phần tích cực, hiệu quả cho công tác tái cấu trúc thị trường chứng khoán nói chung và tái cấu trúc hệ thống các TCKDCK nói riêng.

Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển của  thị trường chứng khoán (TTCK), thực tế hoạt động các công ty chứng khoán (CTCK) vừa qua đã cho thấy, Thông tư 226 cần có sửa đổi để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động ngày càng đa dạng của TCKDCK; đồng thời cũng cần nâng cao quy định về các hình thức xử lý TCKDCK không đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính (ATTC).

Thời gian tới, theo kế hoạch, một loạt các quy định mới sẽ có hiệu lực, từ đó thị trường sẽ có thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ, nghiệp vụ mới, điển hình như: Các sản phẩm chứng khoán phái sinh, chứng quyền bảo đảm, công cụ đầu tư tài chính nước ngoài, lập chi nhánh nước ngoài,... Do đó, Thông tư 87 ra đời sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho các sản phẩm và dịch vụ tài chính mới này.

Thực tế cũng cho thấy, một trong những tồn tại ảnh hưởng tới sự phát triển hơn nữa của khối các CTCK hiện nay là không đa dạng hóa và chuyên môn hóa trong cung cấp dịch vụ. Cơ cấu cạnh tranh của các CTCK hầu như không có sự khác biệt. Các CTCK hầu như chỉ cung cấp dịch vụ môi giới, đối với sản phẩm tài chính là cổ phiếu niêm yết và cho đối tượng (phân khúc) khách hàng là nhà đầu tư nhỏ lẻ; còn mảng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư vẫn chưa thật sự phát triển. Các CTCK vừa và nhỏ gặp sự cạnh tranh gắt gao từ các CTCK lớn ngay ở mảng dịch vụ vốn thích hợp đối với CTCK vừa và nhỏ là môi giới cho khách hàng nhỏ lẻ.

Trong bối cảnh đó, Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020 phần liên quan đến CTCK và tái cấu trúc CTCK đã đề ra mục tiêu phát triển một khối các CTCK đa dạng và chuyên môn hóa cao trong triển khai nghiệp vụ kinh doanh.

Do vậy, theo đánh giá của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Thông tư 87 ra đời là một bước đi đầu tiên trong việc quản lý các CTCK theo chức năng, góp phần thực hiện mục tiêu đa dạng hóa và chuyên môn hóa nghiệp vụ kinh doanh của khối các CTCK, bằng cách áp dụng các mức độ tuân thủ, mức độ xử lý về tỷ lệ vốn khả dụng và đáp ứng tỷ lệ vốn khả dụng tùy thuộc vào mức độ phức tạp trong cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính của công ty chứng khoán.

Cùng với đó, với sự thay đổi được quy định trong Thông tư mới sẽ tạo động lực cho các CTCK tính toán khả năng tài chính, cũng như cân nhắc mức chí phí tuân thủ phù hợp với tiềm lực của mình trước khi tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh khác nhau.

Nhiều điểm mới “khắt khe”, nhưng tích cực

Theo UBCKNN, Thông tư 87 đã kế thừa các công thức tính toán tỷ lệ an toàn tài chính (ATTC) và các hình thức xử lý đối với các TCKDCK không đáp ứng các chỉ tiêu ATTC trong Thông tư 226; đồng thời, bổ sung công thức tính vốn khả dụng phù hợp với những hoạt động kinh doanh mà CTCK được phép thực hiện trong thời gian tới.

Cùng với đó, Thông tư 87 cũng bổ sung hệ số rủi ro cho một số tài sản tài chính mới sẽ xuất hiện trên thị trường trong thời gian tới; cập nhật lại phụ lục tính toán chỉ tiêu an toàn tài chính theo chế độ kế toán mới.

Theo quy định của Thông tư 87, định kỳ hàng tháng, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải gửi UBCKNN báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính theo mẫu quy định. Báo cáo phải được gửi bằng tệp thông tin điện tử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc tháng.

Bên cạnh chế độ báo cáo định kỳ, các TCKDCK phải đáp ứng nghiêm ngặt chế độ báo cáo bất thường. Chẳng hạn như, kể từ khi tỷ lệ vốn khả dụng xuống dưới 180%, TCKDCK phải báo cáo UBCKNN tỷ lệ vốn khả dụng 1 tháng 2 lần, trong vòng 3 ngày làm việc sau ngày 15 và 30 hàng tháng. Kể từ khi tỷ lệ vốn khả dụng xuống dưới 150%, TCKDCK phải báo tỷ lệ vốn khả dụng 1 tuần 1 lần, trước 16 giờ ngày thứ Sáu hàng tuần....

Đồng thời, Thông tư 87 cũng đã bổ sung phương án xử lý áp dụng đối với các cấp độ cảnh báo để quản lý chặt chẽ hơn nữa rủi ro hệ thống; cũng như quy định chi tiết hơn mức độ đáp ứng (các cấp độ cảnh báo) khác nhau cho từng đối tượng CTCK trên cơ sở xem xét tính phức tạp cũng như rủi ro mà CTCK gây ra cho hệ thống.

Theo đó, ngoài việc quy định chi tiết hơn về các mức độ cảnh báo (cảnh báo, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt), Thông tư mới đã bổ sung thêm nhiều quy định về trách nhiệm của các bên liên quan.

Theo Chu Thái (thoibaotaichinhvietnam.vn)

9. Đề xuất phạt vi phạm sử dụng chất cấm trong chăn nuôi

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực thức ăn chăn nuôi, thủy sản. Trong đó, Bộ đề xuất quy định xử phạt vi phạm về sản xuất, gia công, mua bán thức ăn chăn nuôi, thủy sản có chứa kháng sinh; vi phạm về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; sản xuất, gia công, mua bán thức ăn chăn nuôi, thủy sản.

Theo quy định tại Nghị định41/2017/NĐ-CP, vi phạm về sử dụng kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi và sản xuất, gia công, kinh doanh thức ăn chăn nuôi bị phạt theo mức sau:Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong sản xuất, gia công, kinh doanh mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có sử dụng loại kháng sinh không đúng như đã công bố theo quy định hoặc ghi trên nhãn hàng hóa;phạt tiền từ 50 – 70 triệu đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng mỗi chất cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản;phạt tiền từ 70 – 100 triệu đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng mỗi chất cấm trong sản xuất, gia công và kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Tại dự thảo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất xử phạt vi phạm về sản xuất, gia công, mua bán thức ăn chăn nuôi, thủy sản có chứa kháng sinh như sau: Phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh không ghi rõ tên và hàm lượng kháng sinh, hướng dẫn sử dụng, thời gian ngưng sử dụng trên bao bì hoặc tài liệu kèm theo; sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có hàm lượng kháng sinh khác với hàm lượng theo quy định hoặc công bố trên nhãn hàng hóa từ 5% trở lên; mua bán thức ăn thủy sản có chứa kháng sinh.

Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích kích thích sinh trưởng cho gia súc, gia cầm không có trong danh mục kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi; sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích trị bệnh cho gia súc, gia cầm và phòng bệnh cho gia súc, gia cầm non không phải là thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam; sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích trị bệnh cho gia súc, gia cầm và phòng bệnh cho gia súc, gia cầm non không theo đơn của bác sỹ thú y có chứng chỉ hành nghề phòng, trị bệnh cho động vật theo quy định của pháp luật về thú y; sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh không phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, mục đích sử dụng, thời gian sử dụng gây tồn dư kháng sinh vượt mức giới hạn cho phép trong sản phẩm chăn nuôi và không gây ảnh hưởng đến kháng kháng sinh trong điều trị bệnh của con người và vật nuôi; sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chứa trên 2 loại kháng sinh trong một sản phẩm thức ăn chăn nuôi; sản xuất, gia công, nhập khẩu thức ăn thủy sản có chứa kháng sinh.

Xử phạt vi phạm về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi

Đối với vi phạm về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; sản xuất, gia công, mua bán thức ăn chăn nuôi, thủy sản, Bộ đề xuất xử phạt như sau: Phạt tiền từ 50 – 70 triệu đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng mỗi chất cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Phạt tiền từ 70 – 100 triệu đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng mỗi chất cấm trong sản xuất, gia công và mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, thủy sản mà tổng giá trị các sản phẩm thức ăn dưới 100 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 50 triệu đồng.

Theo Tuệ Văn (baochinhphu.vn)

10. Sửa đổi, bổ sung một số điều thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số97/2017/NĐ-CPsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số81/2013/NĐ-CPngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.

Cụ thể, Nghị định97/2017/NĐ-CPđã bổ sung quy định về các tiêu chí xác định đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức. Theo quy định mới, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện: 1- Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật; 2- Hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

Bổ sung thêm thẩm quyền

Nghị định số97/2017/NĐ-CPcũng bổ sung thêm thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành vào khoản 3 Điều 5 Nghị định 81/2013/NĐ-CP. Theo quy định, Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra trong thời hạn thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu nại thì người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết hoặc chỉ đạo người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính giải quyết theo quy định của pháp luật về thanh tra và khiếu nại.

Đồng thời, Nghị định số97/2017/NĐ-CP cũng bổ sung thêm thẩmquyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính. Theo đó, những chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 38; các khoản 3, 4, 5 Điều 39; khoản 3 Điều 40; các khoản 4, 5, 6 Điều 41; các khoản 3, 4 Điều 42; các khoản 2, 3, 4 Điều 43; các khoản 3, 4 Điều 44; các khoản 2, 3 Điều 45; các khoản 1, 2, 3, 5 Điều 46; Điều 47; các khoản 1, 2, 3 Điều 48; các khoản 2, 4 Điều 49 Luật xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính có giá trị gấp 02 lần giá trị tang vật, phương tiện bị tịch thu của cá nhân vi phạm hành chính.

Theo quy định mới, người lập biên bản được tiến hành lập biên bản các hành vi không thuộc thẩm quyền xử phạt. Cụ thể, Nghị định 97/2017/NĐ-CP quy định:Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính gồm người có thẩm quyền xử phạt, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành; người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ lập biên bản. Các chức danh có thẩm quyền lập biên bản được quy định cụ thể tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.

Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt quy định tại khoản 1 Điều này chỉ có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về việc lập biên bản.

Trường hợp vụ việc vi phạm vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, thì người đó vẫn phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xác định rõthẩm quyền xử phạt khi tang vật là hàng cấm

Ngoài ra, Nghị định số97/2017/NĐ-CP cũng bổ sung thêm quy định về thẩm quyền xử phạt trong trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm. Theo quy định,trường hợp các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định trị giá hoặc số lượng của hàng cấm và khung tiền phạt đối với hành vi vi phạm có tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo quy định tại Chương II Phần thứ hai Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định của nghị định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm không thuộc trường hợp nêu trên thì không tiến hành xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính mà phải chuyển hồ sơ vụ việc đến người có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 12.

Thẩm quyền xử phạt đối với trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm được xác định theo nguyên tắc sau:

1- Nếu người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc là người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó.

2- Nếu người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc không phải là người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước hoặc không phải là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra vi phạm hoặc người có thẩm quyền xử phạt cao nhất trong lĩnh vực quản lý nhà nước đó để ra quyết định xử phạt.

Theo Phương Nhi (chinhphu.vn)