Chào mừng đến TRANG THÔNG TIN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH - Địa chỉ: 01 Trần Phú - TP Quy Nhơn - tỉnh Bình Định. Điện thoại: 056.3822294 - 08056011. Email: vpubbinhdinh@vpub.binhdinh.gov.vn
 

Tổng hợp Thông tin Chính sách 03-07 đến 07-07-2017

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH

1. Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2017

Mức lương cơ sở mới áp dụng từ 1/7/2017; HSSV dân tộc thiểu số rất ít người được hỗ trợ học tập; tăng mức trợ cấp đối với người có công;... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2017.

Mức lương cơ sở mới áp dụng từ 1/7/2017

Theo Nghị định 47/2017/NĐ-CPngày 03/04/2017 quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, từ ngày 1/7/2017 mức lương cơ sở là 1.300.000 đồng/tháng (thay cho mức cũ là 1.210.000 đồng/tháng).

Quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá Tra

Nghị định 55/2017/NĐ-CP ngày 09/05/2017 quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá Tra có hiệu lực từ 1/7/2017.

Theo đó, nuôi cá Tra thương phẩm phải đáp ứng 4 điều kiện: 1- Có địa điểm, diện tích nuôi cá Tra phù hợp với quy hoạch về sử dụng đất của UBND cấp tỉnh. 2- Có cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về nuôi cá Tra thương phẩm; có hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt; có nơi xử lý chất thải, bùn thải đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và vệ sinh thú y. 3- Đáp ứng các quy định về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm. 4- Có Giấy chứng nhận mã số nhận diện ao nuôi cá Tra theo quy định.

Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

Nghị định số 56/2017/NĐ-CPngày 09/05/2017 có hiệu lực từ 01/07/2017 quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Trong đó, cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn kỹ năng an toàn cho trẻ em khi tham gia môi trường mạng; trẻ em có bổn phận tìm hiểu, học kiến thức, rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ mình khi tham gia môi trường mạng.

Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải hướng dẫn việc sử dụng dịch vụ, sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin, tiếp cận thông tin để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

HSSV dân tộc thiểu số rất ít người được hỗ trợ học tập

Nghị định 57/2017/NĐ-CP ngày 09/05/2017 quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người có hiệu lực từ 01/07/2017.

Nguyên tắc đầu tư xây dựng cảng biển, luồng hàng hải

Có hiệu lực từ 01/07/2017, Nghị định số 58/2017/NĐ-CP ngày 10/05/2017 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải bao gồm: Đầu tư xây dựng, khai thác cảng biển, luồng hàng hải, công trình hàng hải, báo hiệu hàng hải, thông báo hàng hải, hoạt động của hoa tiêu hàng hải và quản lý hoạt động của tàu thuyền tại cảng biển và trong vùng biển Việt Nam.

Về nguyên tắc đầu tư xây dựng, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư cảng biển, luồng hàng hải, Nghị định quy định tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư xây dựng cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu neo đậu, chuyển tải, luồng hàng hải phải tuân thủ các quy định tại Nghị định số 58/2017/NĐ-CP và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Chia sẻ công bằng, hợp lý từ việc sử dụng nguồn gen

Theo Nghị định số 59/2017/NĐ-CPngày 12/05/2017 của Chính phủ quy định việc chia sẻ lợi ích từ sử dụng nguồn gen có hiệu lực từ 01/07/2017, việc chia sẻ lợi ích từ sử dụng nguồn gen phải đảm bảo công bằng, hợp lý giữa các bên có liên quan và góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên sinh học, thúc đẩy các quá trình nghiên cứu khoa học và thương mại hóa nguồn gen.

Trường hợp phải thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu

Có hiệu lực từ ngày 01/07/2017, Nghị định 61/2017/NĐ-CP ngày 16/05/2017 quy định chi tiết việc thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và việc thành lập Hội đồng đấu giá nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đối với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có giá trị lớn.

Trong đó, những trường hợp phải thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu gồm: Khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt mà khi xác định giá khởi điểm để đấu giá, Công ty Quản lý tài sản không thỏa thuận được với tổ chức tín dụng bán nợ về giá khởi điểm; khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị thị trường.

Giảm giấy tờ trong thủ tục cấp Thẻ đấu giá viên

Nghị định 62/2017/NĐ-CP ngày 16/05/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đấu giá tài sản có hiệu lực từ 01/07/2017. Tại Nghị định này, thủ tục cấp, thu hồi thẻ đấu giá viên đã được đơn giản hóa, giảm giấy tờ, đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

Bổ sung cơ chế tài chính-ngân sách đặc thù cho Thủ đô

Nghị định số 63/2017/NĐ-CP ngày 19/05/2017 quy định một số cơ chế, chính sách tài chính ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội có hiệu lực từ 05/07/2017.

Chính sách đặc thù cho nuôi trồng, khai thác dược liệu

Tại Nghị định số 65/2017/NĐ-CPngày 19/05/2017 về chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng, khai thác dược liệu có hiệu lực từ 05/07/2017, Nhà nước ưu đãi về đất đai; hỗ trợ sản xuất giống, hỗ trợ áp dụng công nghệ nuôi trồng và khai thác dược liệu... cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến nuôi trồng, khai thác dược liệu trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang để ghi âm, ghi hình

Chính phủ đã ban hành Nghị định 66/2017/NĐ-CP ngày 19/05/2017 quy định điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị có hiệu lực từ 05/07/2017.

Nghị định này quy định điều kiện về an ninh, trật tự, công tác quản lý nhà nước, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan và biện pháp thi hành đối với hoạt động kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị.

Đưa chất khác vào xăng dầu để trục lợi bị phạt tới 100 triệu đồng

Nghị định số67/2017/NĐ-CPngày 25/05/2017 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí có hiệu lực từ 10/07/2017. Theo đó, phạt tiền từ 60 - 100 triệu đồng đối với hành vi thực hiện cách pha trộn hoặc đưa các chất khác vào xăng dầu để trục lợi.

Điều kiện thành lập cụm công nghiệp

Theo Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/05/2017 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp có hiệu lực từ 15/07/2017, điều kiện thành lập cụm công nghiệp gồm: 1- Có trong Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đã được phê duyệt; 2- Có doanh nghiệp, hợp tác xã có tư cách pháp lý, có năng lực, kinh nghiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; 3- Trong trường hợp địa bàn cấp huyện đã thành lập cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp nhỏ hơn 50 ha.

Tăng mức trợ cấp đối với người có công

Theo Nghị định số 70/2017/NĐ-CP ngày 06/06/2017 có hiệu lực từ 25/07/2017, mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng được tăng từ 1.318.000 đồng lên 1.417.000 đồng./.

Hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở với sĩ quan, quân nhân quốc phòng

Thông tư số 145/2017/TT-BQP của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng đang hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách nhà nước trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành từ ngày 31/7/2017. Các chế độ quy định tại Thông tư này được thực hiện từ ngày 1/7/2017.

Tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Thông tư số 15/2017/TT-BLĐTBXH​ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 24/7/2017.

Thắt chặt quy định hàng xách tay đối với rượu, xì gà

Có hiệu lực kể từ ngày 10/7/2017, Thông tư52/2017/TT-BTCsửa đổi Thông tư 120/2015/TT-BTC quy định về mẫu, chế độ in, phát hành, quản lý và sử dụng Tờ khai Hải quan dùng cho người xuất cảnh, nhập cảnh. Nội dung sửa đổi thắt chặt việc xách tay đối với mặt hàng rượu, xì gà.

Theo Hoàng Diên (baochinhphu.vn)

2. Quy định về xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND

Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc TANDTC; Chánh án TAND cấp cao; Chánh án TAND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp huyện) có hành vi vi phạm trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành sẽ bị xử lý trách nhiệm.

Từ ngày 1/7/2017, những người giữ chức danh tư pháp trong TAND có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật; người đứng đầu cơ quan, đơn vị có hành vi vi phạm trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành sẽ bị xử lý trách nhiệm.

Xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp

Ngày 19/6/2017, Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 120/QĐ-TANDTC Ban hành Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND. Quy định điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm Thẩm phán TANDTC và người giữ chức danh tư pháp trong các TAQS. Người giữ chức danh tư pháp trong TAND bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án.

Việc xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND đảm bảo kịp thời, khách quan, công bằng, nghiêm minh đúng quy định; không áp dụng hình thức xử lý trách nhiệm thay cho hình thức kỷ luật và các hình thức xử lý khác. Người có nhiều hành vi vi phạm thì bị xử lý trách nhiệm về từng hành vi vi phạm và phải bị xử lý bằng hình thức trách nhiệm nặng hơn một mức so với hình thức xử lý trách nhiệm áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất. Việc xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp được thực hiện khi xác định có hành vi vi phạm. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác của người giữ chức danh tư pháp trong quá trình xử lý trách nhiệm. Những người bị xử lý trách nhiệm không đúng quy định sẽ được kịp thời khôi phục lại nhiệm vụ, quyền hạn và được xem như chưa bị xử lý trách nhiệm. Chỉ xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động tư pháp của Tòa án.

Người giữ chức danh tư pháp trong TAND có hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật thì có thể bị xử lý trách nhiệm bằng các hình thức: kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị; tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao; bố trí làm công việc khác; chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán; không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán. Mặt khác, người bị xử lý trách nhiệm sẽ không được xem xét, đề nghị người có thầm quyền khen tặng danh hiệu thi đua từ “Lao động tiên tiến” trở lên khi kết thúc năm công tác.

Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm, người bị xử lý trách nhiệm  phải chịu các hậu quả khác như: không được xem xét quy hoạch chức vụ lãnh đạo, quản lý; không được xem xét cử đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị hoặc các hình thức đào tạo khác ở trong nước và nước ngoài; không được xem xét để nghị bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; không được tham gia kỳ thi tuyển chọn, nâng ngạch Thẩm phán, kỳ thi chuyển ngạch, nâng ngạch đối với Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong thời gian bị xử lý trách nhiệm. Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND quy định rõ thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với Thẩm phán giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là Chánh án, Phó Chánh án;  đối với Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; đối với người giữ chức danh tư pháp được biệt phái; đối với người giữ chức danh tư pháp đã chuyển công tác, sau đó mới xác định có hành vi vi phạm tại cơ quan, đơn vị đã công tác…

Thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp tối đa là 30 ngày, kể từ ngày xác định người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm cho đến ngày người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định xử lý. Khi phát hiện hành vi vi phạm của người giữ chức danh tư pháp, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý trách nhiệm phải kiểm tra, xác định rõ hành vi vi phạm và ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý trách nhiệm. Thông báo phải nêu rõ thời điểm người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm, thời điểm xác định người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm và thời hạn xử lý trách nhiệm. Trường hợp vụ, việc có liên quan đến nhiều người hoặc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thì thời hạn xử lý trách nhiệm có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 60 ngày.

Xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị

Người đứng đầu là người giữ chức vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các TAND bao gồm: Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc TANDTC; Chánh án TAND cấp cao; Chánh án TAND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp huyện. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong các TAND có hành vi vi phạm trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành sẽ bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị khi trong một năm công tác, cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý có số người giữ chức danh tư pháp bị xử lý trách nhiệm chiếm tỷ lệ từ 10% trở lên trên tổng số người giữ chức danh tư pháp của cơ quan, đơn vị. Người đứng đầu thiếu trách nhiệm hoặc không tổ chức thực hiện việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định tại Nghị quyết 03/2017/HĐPT ngày 16/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Ngoài ra, người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ bị xử lý trách nhiệm khi trong cơ quan, đơn vị có Thẩm phán để từ 2 vụ, việc quá thời hạn giải quyết, xét xử từ 12 tháng trở lên theo quy định của BLTTHS, BLTTDS, Luật Tố tụng hành chính. Trong cơ quan, đơn vị có Thẩm tra viên để từ 1 vụ, việc quá thời hạn xem xét, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của BLTTHS, BLTTDS, Luật Tố tụng hành chính dẫn đến vụ, việc không thể kháng nghị hoặc trả lời đơn cho đương sự. Người đứng đầu thiếu trách nhiệm, để xảy ra vi phạm trong việc tổ chức công tác xét xử của TAND thuộc quyền quản lý, gây ảnh hưởng đến uy tín, uy nghiêm, chất lượng công tác xét xử, giải quyết các vụ, việc; để quá thời hạn xử lý hoặc không xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm bị xử lý theo quy định. Xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi xảy ra vi phạm pháp luật tại cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý có liên quan đến tiêu cực, tham nhũng; không chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ báo cáo hoặc báo cáo không kịp thời theo yêu cầu của Tòa án cấp trên khi đã có văn bản nhắc nhở lần thứ hai. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có người giữ chức danh tư pháp thuộc quyền quản lý thực hiện hành vi vi phạm liên quan đến tiêu cực, tham nhũng thì bị xử lý theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và các quy định khác có liên quan.

Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2017. Đối với các bản án, quyết định đã giải quyết, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong nhiệm kỳ Thẩm phán bị Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa trước ngày Quy định này có hiệu lực vẫn được xem xét để xử lý trách nhiệm Thẩm phán khi bổ nhiệm nâng ngạch hoặc bổ nhiệm lại Thẩm phán. Chánh án TANDTC yêu cầu thủ trưởng các đơn vị thuộc TANDTC, Chánh án TAND cấp cao, Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án TAND cấp huyện chịu trách nhiệm quán triệt và tổ chức thực hiện Quy định này.

Các đơn vị trong TAND có trách nhiệm xây dựng, ban hành chỉ tiêu công tác hàng tháng, quý, năm, để làm căn cứ thực hiện và xử lý trách nhiệm khi có hành vi vi phạm. Ban Thanh tra TANDTC có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc khó khăn, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án các cấp kịp thời phản ánh về TANDTC thông qua Ban Thanh tra để được hướng dẫn kịp thời. Việc sửa đổi, bổ sung Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong TAND do Chánh án TANDTC quyết định.

Theo PV (congly.vn)

3. Bán, cho, tặng xe ô tô phải báo cơ quan công an

Bộ Công an vừa dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 quy định về đăng ký xe, trong đó có những nội dung đáng chú ý sau.

Theo đó, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 như sau: Ngay khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng xe, chủ xe phải thông báo bằng văn bản theo mẫu ban hành kèm theo thông tư này đến cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký xe đó để theo dõi. Nếu chủ xe không thông báo, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chiếc xe đó đến khi tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

Cũng theo dự thảo, tùy loại xe, chủ sở hữu cũng như khu vực mà cơ quan cấp đăng ký xe có thể là: Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Dự thảo còn bổ sung quy định xe của cơ quan, tổ chức đã đăng ký, cấp biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng, khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng chủ xe phải làm thủ tục thu hồi, nộp lại đăng ký, biển số cho cơ quan đăng ký xe trước khi bàn giao xe cho tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe.

Theo quy định của dự thảo này, những trường hợp phải thu hồi đăng ký, biển số xe bao gồm: Xe đã đăng ký, cấp biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng, khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng; xe hết niên hạn sử dụng; xe không được phép lưu hành theo quy định của pháp luật; xe có kết luận của cơ quan có thẩm quyền bị cắt hàn cả số máy và số khung hoặc chỉ cắt hàn số máy hoặc số khung”.

Toàn văn Dự thảo được đăng trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an để lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 2 tháng kể từ ngày đăng./.

Theo Anh Minh (kiemsat.vn)

4. Cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 24/2017/QĐ-TTg quy định về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân.

Theo đó, về cơ chế điều chỉnh giá bán điện bình quân hàng năm, trên cơ sở kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện do Bộ Công Thương ban hành hàng năm và kết quả kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm trước liền kề, ước kết quả sản xuất kinh doanh điện trong năm, Tập đoàn Điện lực Việt Nam tính toán giá bán điện bình quân.

Trường hợp giá bán điện bình quân giảm so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm giảm giá bán điện bình quân ở mức tương ứng, lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát.

Trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 3% đến dưới 5% so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết định điều chỉnh tăng giá bán điện bình quân ở mức tương ứng. Sau khi tăng giá, Tập đoàn Điện lực Việt Nam lập hồ sơ báo cáo Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để kiểm tra, giám sát.

Trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 5% đến dưới 10% so với giá bán điện bình quân hiện hành và trong khung giá quy định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam được phép điều chỉnh tăng giá bán điện bình quân ở mức tương ứng sau khi báo cáo và được Bộ Công Thương chấp thuận. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, Bộ Công Thương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản để Tập đoàn Điện lực Việt Nam triển khai thực hiện. Sau khi thực hiện điều chỉnh, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương, Bộ Tài chính.

Trường hợp giá bán điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 10% trở lên so với giá bán điện bình quân hiện hành hoặc điều chỉnh ngoài khung giá quy định hoặc ảnh hưởng đến tình hình kinh tế vĩ mô, trên cơ sở hồ sơ phương án giá điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam trình, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, rà soát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định cũng quy định cụ thể cơ chế điều chỉnh giá bán điện bình quân trong năm, trong đó, trước ngày 25 tháng đầu tiên quý II, quý III và quý IV, trên cơ sở tổng hợp thông số đầu vào cơ bản trong khâu phát điện của quý trước liền kề, Tập đoàn Điện lực Việt Nam xác định chi phí phát điện của quý trước liền kề, chi phí phát điện cộng dồn từ đầu năm, sản lượng điện thương phẩm thực tế của quý trước và tổng sản lượng điện thương phẩm cộng dồn, ước sản lượng điện thương phẩm các tháng còn lại trong năm, tính toán lại giá bán điện bình quân.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ 15/8/2017.

Theo Chí Kiên (chinhphu.vn)

5. Ưu tiên hỗ trợ DN phát triển nông nghiệp

Nhà nước sẽ ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp để phát triển khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp tham gia theo các chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số210/2013/NĐ-CPvề chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm tăng nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy sản xuất, hàng hóa khu vực này, phát triển kinh tế xã hội bền vững trên địa bàn nông thôn.

Tuy nhiên, việc triển khai Nghị định số 210/2013/NĐ-CP còn nhiều bất cập, do: nguồn lực hạn chế, quy hoạch sử dụng đất các địa phương thường xuyên thay đổi, tích tụ ruộng đất còn khó khăn, sản xuất nông nghiệp còn nhiều rủi ro bất cập, chính sách bảo hiểm nông nghiệp không hiệu quả khiến doanh nghiệp khó tiếp cận ngân hàng, thủ tục hành chính còn phức tạp...

Mặt khác, Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ban hành trước khi có các Luật (Đất đai, Đầu tư công,  Đầu tư, Xây dựng) nên một số quy định còn trùng lặp, vướng mắc khi hướng dẫn thực hiện, phát sinh nhiều thủ tục cho doanh nghiệp khi có dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 210/2013/NĐ-CP để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới là rất cần thiết và cấp bách.

Vừa qua tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã chủ trì Hội thảo về sửa đổi, bổ sungNghị định chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (Nghị định mới).

Xóa bỏ cơ chế xin cho

Phó Thủ tướngkết luận, mục đích cần đạt được sau khi ban hành Nghị định mới, phải thu hút được làn sóng mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Dự thảo Nghị định mới cần vận dụng tối đa các quy định Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp nhỏ và vừa để áp dụng, cụ thể hóa cơ chế chính sách cho nông nghiệp, nông thôn và các Luật Thủy lợi, Dự án Luật Lâm nghiệp, Luật Thủy sản… và Nghị quyết của Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về kinh tế tư nhân và thể chế kinh tế thị trường.

Dự thảo Nghị định mới cần tập trung vào đề xuất cơ chế, chính sách, hỗ trợ gián tiếp là chủ yếu (môi trường đầu tư, thủ tục hành chính), trong đó ưu tiên tạo thuận lợi nhất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn như: khuyến khích bằng cả cơ chế ưu đãi (đất đai, thuế, miễn, giảm…) và chính sách hỗ trợ bằng tiền phù hợp nguyên tắc thị trường và khả năng chi ngân sách Nhà nước; cần tập trung vào đối tượng doanh nghiệp nhỏ, hỗ trợ khuyến khích thành lập doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn.

Đối với các doanh nghiệp lớn, tập trung hỗ trợ xây dựng thương hiệu quốc gia, có quy mô vùng nổi trội, thành doanh nghiệp đầu đàn. Đối tượng của chính sách là doanh nghiệp mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các loại doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác đầu tư vào khu vực nông thôn.

Cùng với đó tập trung ưu tiên hỗ trợ trực tiếp để doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, mua sắm chuyển giao công nghệ để đưa vào sản xuất; hỗ trợ doanh nghiệp để phát triển khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp tham gia theo các chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm. Nguồn hỗ trợ không chỉ từ ngân sách Trung ương, địa phương mà còn từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ đổi mới công nghệ và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Phó Thủ tướng yêu cầu Dự thảo cần rà soát các thủ tục nhận hỗ trợ của doanh nghiệp đảm bảo công khai, minh bạch, kịp thời, dễ dàng, giảm chi phí cho doanh nghiệp; đồng thời giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, xóa bỏ cơ chế xin cho, nhằm đảm bảo chính sách phát huy hiệu quả và sớm đi vào cuộc sống.

Theo Phương Nhi (chinhphu.vn)

6. Tăng lương hưu, trợ cấp BHXH

Theo Nghị định76/2017/NĐ-CPđiều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng vừa được Chính phủ ban hành, từ ngày 01/7/2017, tăng thêm 7,44% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2017 đối với 8 đối tượng.

Cụ thể, điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với 8 đối tượng gồm:

1- Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theoQuyết định 41/2009/QĐ-TTgngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

2- Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số92/2009/NĐ-CPngày 22/10/2009,Nghị định 121/2003/NĐ-CPngày 21/10/2003 và Nghị định số09/1998/NĐ-CPngày 23/1/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

3- Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số91/2000/QĐ-TTgngày 04/8/2000, Quyết định số613/QĐ-TTgngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

4-  Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số111-HĐBTngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

5- Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số142/2008/QĐ-TTgngày 27/10/2008, Quyết định số38/2010/QĐ-TTgngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

6- Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số53/2010/QĐ-TTgngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ.   

7- Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số62/2011/QĐ-TTgngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

8- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017. Các chế độ quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01/7/2017.

Theo Hoàng Diên (chinhphu.vn)

7. Hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động người dân tộc thiểu số

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư58/2017/TT-BTChướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính cho tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Thông tư này hướng dẫn chính sách hỗ trợ tài chính về chi trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo nghề ngắn hạn, tiền thuê đất cho các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số cư trú hợp pháp trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo quy định tại Quyết định42/2012/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ và Quyết định64/2015/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 42/2012/QĐ-TTg.

Thông tư quy định rõ về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn. Theo đó, về hỗ trợ chi phí đào tạo: Người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, mức hỗ trợ tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học; người dân tộc thiểu số, mức hỗ trợ tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học.

Đồng thời hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học. Hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/ người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15 km trở lên.

Riêng đối với người học là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, mức hỗ trợ tiền đi lại 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5 km trở lên.

Đối với chính sách hỗ trợ về bảo hiểm, ngân sách nhà nước hỗ trợ nộp thay cho các đơn vị sử dụng lao động tối đa 05 năm đối với một người lao động.

Việc hỗ trợ bảo hiểm được thực hiện đối với lao động là người dân tộc thiểu số được đơn vị sử dụng lao động ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% kinh phí về đào tạo, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho lao động là người dân tộc thiểu số.

Các địa phương chủ động bố trí ngân sách địa phương để cùng với ngân sách trung ương hỗ trợ triển khai có hiệu quả chính sách đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng cho lao động là người dân tộc thiểu số.

Miễn, giảm tiền thuê đất

Thông tư nêu rõ, chỉ xem xét miễn, giảm tiền thuê đất đối với diện tích đất sử dụng cho mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

Đơn vị sử dụng lao động có sử dụng từ 30% đến dưới 50% lao động là người dân tộc thiểu số so với tổng số lao động có mặt làm việc thường xuyên tại đơn vị được giảm 50% tiền thuê đất trong năm đối với diện tích đất của đơn vị thuộc diện phải thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Đơn vị sử dụng lao động có sử dụng từ 50% lao động là người dân tộc thiểu số trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên làm việc tại đơn vị được miễn 100% tiền thuê đất trong năm đối với diện tích đất của đơn vị thuộc diện phải thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thông tư này được áp dụng từ năm tài chính 2017.

Theo Lan Phương (baochinhphu.vn)

8. Không công bố bản án các tội về an ninh quốc gia

Ngày (4-7), TAND Tối cao vừa ban hành Công văn 144/TANDTC-PC gửi TAND các cấp hướng dẫn thi hành Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán về việc công khai bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của tòa án.

Theo đó, TAND Tối cao lưu ý để xác định bản án, quyết định có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước không được công bố thì phải căn cứ vào các quy định pháp luật liên quan đến danh mục bí mật nhà nước đã ban hành.

Đáng chú ý, theo quy định tại Quyết định số 01/2004/QĐ-TTg ngày 5-1-2004 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ tối mật của TAND thì không công bố những bản án, quyết định liên quan đến việc xét xử các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Không được công bố những bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị (bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ hoặc một phần).

Đáng chú ý, trước khi xét xử vụ án, khi phổ biến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, chủ tọa phiên tòa phải thông báo cho họ biết bản án, quyết định vụ việc mà họ là người tham gia tố tụng thuộc diện được công bố và quyền của họ được yêu cầu giữ bí mật một số thông tin theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu về giữ bí mật của người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa, phiên họp phải được làm bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do để tòa án xem xét.

Trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt và tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật mà người vắng mặt không có văn bản yêu cầu tòa án giữ bí mật thông tin thì được xác định là họ không yêu cầu giữ bí mật thông tin.

Bản án, quyết định đã công bố nhưng thuộc trường hợp không được công bố hoặc được công bố không chính xác thì chánh án tòa án nơi giải quyết vụ việc có trách nhiệm xem xét, quyết định việc gỡ bỏ bản án, quyết định đó.

Theo L.Thanh (plo.vn)