Chào mừng đến TRANG THÔNG TIN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH - Địa chỉ: 01 Trần Phú - TP Quy Nhơn - tỉnh Bình Định. Điện thoại: 056.3822294 - 08056011. Email: vpubbinhdinh@vpub.binhdinh.gov.vn
 

Tổng hợp Thông tin Chính sách 11-09 đến 15-09-2017

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 4-8/9

Thực hiện nghiêm việc lập, giao nộp hồ sơ, tài liệu;thanh tra việc cấp phép nhập khẩu, lưu hành thuốc của Cty VN Pharma; xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung;... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 4-8/9/2017.

Thực hiện nghiêm việc lập, giao nộp hồ sơ, tài liệu

Để thực hiện nghiêm quy định về lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử các cấp, kịp thời bảo vệ, phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm việc lập hồ sơ công việc và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử; ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử cấp tỉnh theo trách nhiệm quy định tại Điều 9 và Điều 19 Luật Lưu trữ.

Chậm nhất đến hết năm 2021, các ngành, các cấp giải quyết dứt điểm tài liệu được hình thành từ năm 2015 trở về trước đang bó gói, tồn đọng tại các cơ quan, tổ chức.

Thanh tra việc cấp phép nhập khẩu, lưu hành thuốc của Cty VN Pharma

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra việc cấp phép nhập khẩu thuốc và cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc đối với 7 loại thuốc do Công ty Helix Pharmaceuticals Inc, Canada sản xuất và việc trúng các gói thầu cung cấp thuốc cho các bệnh viện của Công ty cổ phần VN Pharma trước khi xảy ra vụ án; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/12/2017.

Năm 2016 có 2413 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

Theo Quyết định số 1305/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tổng số cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm năm 2016 là 2.413 đơn vị; trong đó công nghiệp 1.874 đơn vị, công trình xây dựng 456 đơn vị, giao thông vận tải 54 đơn vị, nông nghiệp 29 đơn vị.

Xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường biển

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường biển 4 tỉnh miền Trung do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế quản lý.

Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, giai đoạn 2017 - 2020, đối với giáo dục mầm non và phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông), tổ chức thí điểm ở 3 tỉnh, thành phố đại diện cho ba miền (dự kiến 2 trường mỗi cấp học); đối với giáo dục đại học, tổ chức dạy thí điểm cho các khối trường theo nhóm ngành đào tạo (dự kiến 3 trường mỗi khối trường); đối với giáo dục nghề nghiệp, tổ chức dạy thí điểm cho các khối trường theo nhóm ngành, nghề đào tạo (dự kiến 3 trường mỗi khối trường).

Đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân tổ chức giáo dục quyền con người cho người học.

Điều tra vụ cán bộ Hải quan đánh tráo, chiếm đoạt tang vật

Xét báo cáo của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về vụ việc cán bộ Cục Hải quan thành phố Hà Nội lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để đánh tráo, chiếm đoạt 156 kg ngà voi đang lưu giữ trong kho tang vật, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình - Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia giao Bộ Công an chỉ đạo Công an thành phố Hà Nội sớm có kết luận điều tra để xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Theo Chí Kiên (chinhphu.vn)

Ban hành 11 văn bản QPPL trong tháng 8/2017

Trong tháng 8/2017, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 11 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 9 Nghị định của Chính phủ và 2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Trong đó, Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 7/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính.

Nghị định được ban hành nhằm bảo đảm phù hợp, thống nhất, đồng bộ với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các quy định của Nghị định số 150/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ; tạo cơ sở pháp lý triển khai hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính theo hướng tăng cường trách nhiệm, tạo tính chủ động, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính từ Trung ương đến địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Nghị định số 93/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nước.

Nghị định được ban hành để đảm bảo thống nhất với các văn bản quy phạm pháp pháp luật mới được ban hành, như Luật doanh nghiệp, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật hợp tác xã...; tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có hành lang pháp lý thống nhất, làm cơ sở để tổ chức tín dụng chủ động trong quá trình điều hành, quản lý tài chính, bảo đảm an toàn vốn và hoạt động kinh doanh ổn định, hợp pháp.

Nghị định số 94/2017/NĐ-CP ngày 10/8/2017 của Chính phủ về hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý cụ thể, minh bạch và thống nhất để Nhà nước cũng như các chủ thể khác kiểm tra giám sát việc thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế.

Nghị định số 100/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản.

Nghị định gồm 3 điều, bổ sung khoản 5a sau khoản 5 Điều 29 của Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản; cụ thể như sau: Đối với các sản phẩm thức ăn chăn nuôi, thủy sản hết hiệu lực lưu hành trong khoảng thời gian từ ngày 20/11/2016 đến hết ngày 20/11/2017 thì được tiếp tục lưu hành không quá 18 tháng.

Quyết định số 37/2017/QĐ-TTg ngày 17/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc bãi bỏ Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg ngày 07/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa phải kiểm tra về chất lượng.

Quyết định được ban hành nhằm đảm bảo áp dụng thống nhất văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sản phẩm, hàng hóa phải kiểm tra về chất lượng; đảm bảo phù hợp với Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

 Theo Chí Kiên (chinhphu.vn)

Chuyển xếp lương đối với công nhân quốc phòng

Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư 207/2017/TT-BQP hướng dẫn thực hiện chuyển xếp lương đối với công nhân quốc phòng.

Đối tượng áp dụng gồm công nhân quốc phòng thuộc biên chế của Quân đội nhân dân, được bố trí theo vị trí việc làm; thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở sản xuất, sửa chữa, cải tiến, bảo quản vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; bảo đảm, phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ khác của Quân đội.

Nguyên tắc chuyển xếp lương là căn cứ vào vị trí việc làm và yêu cầu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm để xếp vào loại, nhóm; căn cứ vào thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đến hết tháng 6 năm 2016 để xếp bậc lương (nếu có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đứt quãng chưa được hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn).

Khi thực hiện chuyển xếp lương không được kết hợp nâng bậc, nâng nhóm, nâng loại.

Thông tư quy định rõ cách chuyển xếp lương đối với trường hợp tại thời điểm ngày 01/07/2016 đang bố trí đúng yêu cầu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm.

Về chuyển xếp loại, nhóm lương: Đang được bố trí đúng yêu cầu trình độ đại học theo vị trí việc làm thì xếp vào Nhóm 1 Loại A; đang được bố trí đúng yêu cầu trình độ cao đẳng theo vị trí việc làm thì xếp vào Nhóm 2 Loại A; đang được bố trí đúng yêu cầu trình độ trung cấp theo vị trí việc làm thì xếp vào Loại B; đang được bố trí đúng yêu cầu trình độ sơ cấp theo vị trí việc làm thì xếp vào Loại C Bảng lương công nhân quốc phòng quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 19/2017/NĐ-CP.

Chuyển xếp bậc lương: Trên cơ sở đã thực hiện xong chuyển xếp loại, nhóm lương, căn cứ vào thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (bao gồm thời gian công tác trong và ngoài Quân đội, nếu có đứt quãng chưa hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn) để thực hiện xếp bậc lương, cụ thể: Tính từ bậc 1, cứ sau mỗi khoảng thời gian 2 năm (đủ 24 tháng) đối với các hệ số lương từ 3,95 trở xuống và cứ sau mỗi khoảng thời gian 3 năm (đủ 36 tháng) đối với các hệ số lương trên 3,95 được xếp lên 1 bậc lương theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

Trường hợp trong thời gian công tác trước ngày 01/07/2016 được nâng bậc lương trước thời hạn thì thời gian trước thời hạn đó được cộng để tính vào thời gian xếp lên bậc lương cao hơn. Trường hợp trong thời gian công tác trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 có năm không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc bị kỷ luật khiển trách thì bị trừ 6 tháng, bị kỷ luật cảnh cáo hoặc giáng chức, cách chức thì bị trừ 12 tháng vào thời gian tính xếp lên bậc lương cao hơn.

Trong quá trình chuyển xếp lương đến bậc lương cuối cùng, nếu có số tháng dư (chưa đủ 24 tháng đối với các hệ số lương từ 3,95 trở xuống hoặc chưa đủ 36 tháng đối với các hệ số lương trên 3,95) thì số tháng dư này sẽ được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương tiếp theo hoặc xét hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung. Thời gian để xét nâng bậc lương tiếp theo hoặc xét hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung được tính bắt đầu từ tháng 7 năm 2016.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/10/2017.

Các chế độ quy định tại Thông tư này được tính hưởng từ ngày 01/07/2016.

Theo Khánh Linh (baochinhphu.vn)

Dắt chó ra đường không rọ mõm có thể bị phạt 1 triệu đồng

Bắt đầu từ ngày 15/9, nếu không đeo rọ mõm cho chó, để chó cắn người khi dẫn chúng ra đường, nơi công cộng, người nuôi sẽ bị phạt nặng.

Đó là nội dung chính được sửa đổi trong Nghị định 90/2017/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thú y, bắt có hiệu lực từ ngày 15/9.

Theo quy định này, với hành vi không đeo rọ mõm cho chó, không xích giữ chó, không có người dắt khi đưa chó ra nơi công cộng sẽ bị phạt tiền từ 600.000 đến 800.000 đồng.

Trường hợp chủ nuôi không tiêm phòng bệnh dại cho chó, mèo cũng chịu mức phạt tương tự từ 600.000 đến 800.000 đồng như hành vi trên.

Đối với trường hợp chó cắn, cào người khác thì chủ phải bồi thường vật chất cho người bị hại theo quy định.

Đối với trường hợp người thả rông chó trong thành phố, nơi công cộng hoặc để vật nuôi gây thiệt hại cho người khác sẽ bị phạt từ 100.000 – 1.000.000 đồng. Với những trường hợp chó dữ tấn công gây tổn hại sức khỏe, tài sản cho người khác thì chủ chó sẽ phải bồi thường tùy theo mức độ thiệt hại.

Hiện nay, tại TP Hồ Chí Minh có khoảng 110.000 hộ nuôi chó với tổng trên 220.000 con. Tuy nhiên, mới chỉ có 12/24 quận, huyện được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận xây dựng an toàn bệnh dại. Trong khi đó, bệnh dại vẫn là một mối nguy hiểm cho người dân, dù có sống trong thành thị hay nông thôn.

Theo Hoàng Tuyết (baotintuc.vn)

Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Căn cứ Kết luận của Ban Bí thư về kết quả kiểm điểm trách nhiệm để xảy ra sai sót nghiêm trọng trong Bộ luật hình sự năm 2015;

Xét đề nghị của Bộ Tư pháp, để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) và Nghị định số 34, 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo:

Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gắn với việc rà soát, đánh giá, xem xét, dự kiến bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm kịp thời loại bỏ những quy định lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, không đúng thẩm quyền, không minh bạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, từng bước đơn giản hóa, hiện đại hóa hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước.

 Trong báo cáo đánh giá tác động và thuyết minh của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ phải có nội dung rà soát, đánh giá và đề xuất danh mục các văn bản pháp luật cần bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung với dự kiến lộ trình, thời gian cụ thể thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định.

Đối với việc sửa đổi, bổ sung luật, pháp lệnh, thực hiện theo hướng: Đối với các luật, pháp lệnh có nội dung sửa đổi, bổ sung nhỏ, đơn giản, không làm thay đổi chính sách hoặc chỉ sửa đổi về kỹ thuật thì đưa nội dung sửa đổi, bổ sung vào dự án luật, pháp lệnh có liên quan đang được soạn thảo;

Đối với các luật, pháp lệnh có nội dung sửa đổi, bổ sung lớn, phức tạp, làm thay đổi các chính sách thì bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định của Luật năm 2015.

Chủ động báo cáo xin ý kiến chỉ đạo những vấn đề quan trọng, phức tạp

Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, cần chủ động báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với những vấn đề quan trọng, phức tạp, có ý kiến khác nhau cần phải được xử lý kịp thời, thống nhất ngay từ đầu để bảo đảm chất lượng và tiến độ của dự án;

Trong quá trình soạn thảo cần xác định rõ những nội dung trong luật, pháp lệnh giao quy định chi tiết, cơ quan có trách nhiệm soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết, hiệu lực của nội dung giao quy định chi tiết.

Bên cạnh đó, phân công, cử lãnh đạo, chuyên viên tham dự đầy đủ, đúng thành phần tham gia các hoạt động trong quá trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến;

 Các cơ quan của Quốc hội thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh; phối hợp với Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ kịp thời báo cáo, xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề mới thuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh khác với quan điểm chỉ đạo, chính sách của dự án đã được Chính phủ thông qua, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đồng thời, tăng cường theo dõi, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động, sự tham gia và ý thức trách nhiệm của từng thành viên Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh.

Trong báo cáo hằng quý gửi Bộ Tư pháp về tình hình, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo phải có nội dung báo cáo về tình hình và chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban soạn thảo.

Chủ động phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát các nội dung giao quy định chi tiết, kịp thời đề xuất xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết ngay sau khi luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và gửi về Bộ Tư pháp để tổng hợp, lập Danh mục, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;

Tuân thủ nghiêm các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34 năm 2016 liên quan đến thời hạn và hồ sơ gửi thẩm định, thẩm tra các đề nghị xây dựng, các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tham dự đúng thành phần các cuộc họp của Ban soạn thảo

Các bộ, cơ quan ngang bộ không phải là cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo để phục vụ cho việc nghiên cứu, soạn thảo, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, nhất là trong việc phối hợp tham gia ý kiến đối với các dự án luật, pháp lệnh, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định của Luật năm 2015, Nghị định số 34 năm 2016 và Quy chế làm việc của Chính phủ.

Lãnh đạo hoặc đại diện lãnh đạo bộ, cơ quan ngang bộ là thành viên Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh phải tham dự đầy đủ, đúng thành phần các cuộc họp của Ban soạn thảo, không cử cấp dưới đi dự họp thay, trừ trường hợp bất khả kháng.

Chủ động hoặc theo đề nghị của các cơ quan của Quốc hội, tham gia tích cực vào quá trình tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh;

Cung cấp đầy đủ thông tin thuộc ngành, lĩnh vực quản lý phục vụ việc soạn thảo, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh;

Kiến nghị xử lý kịp thời những quy định của dự thảo luật, pháp lệnh không bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật thuộc ngành, lĩnh vực được phân công quản lý.

Nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan của Quốc hội;

Phân công lãnh đạo và công chức tham gia ngay từ đầu, đầy đủ các hoạt động nghiên cứu, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện, cho đến khi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua dự án luật, pháp lệnh.

Trong quá trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, thông qua, trường hợp có đề xuất chỉnh lý, bổ sung khác với quan điểm, tư tưởng chủ đạo và nội dung cơ bản của dự án luật, pháp lệnh Chính phủ đã trình thì Văn phòng Chính phủ phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo hoặc chủ động báo cáo kịp thời Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo.  

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các cơ quan có liên quan thực hiện nghiêm các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34 năm 2016 trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương.

Tăng cường kiểm tra, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý kịp thời các sai phạm theo hướng:

 Xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo, thẩm định trong trường hợp văn bản không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật;

Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc tham mưu xây dựng, ban hành văn bản trái pháp luật; tập trung nguồn lực, bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương.

Nghiên cứu sửa đổi Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan của Quốc hội nghiên cứu về sự cần thiết, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, trình Chính phủ xem xét, quyết định trong Quý IV năm 2017 để đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Nội dung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung tập trung vào một số vấn đề.

Thứ nhất, xác định đầy đủ, rõ ràng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong toàn bộ quy trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua các dự án luật, pháp lệnh theo hướng phân công hợp lý, bảo đảm kiểm soát quyền lực, trách nhiệm đến cùng của Chính phủ trong việc soạn thảo, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện cho đến khi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ chủ trì soạn thảo, trình.

Thứ hai, xác lập cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng pháp luật.

Trong đó, có cơ chế Chính phủ chủ động trình xin ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với những vấn đề lớn, có ý kiến khác nhau về quan điểm, chủ trương, chính sách trong dự án luật, pháp lệnh quan trọng, phức tạp, nhạy cảm ngay từ giai đoạn nghiên cứu, soạn thảo để có đủ thời gian cho việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý và bảo đảm chất lượng, tính khả thi và tiến độ của dự án.

Đồng thời, nâng cao vai trò, trách nhiệm thẩm tra, phản biện và giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong việc tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ, nhất là kiểm soát trước, đối với việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương.

Theo Trinh Phúc (giaoduc.net.vn)

Chính sách cho người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc hóa học

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đang dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 16/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn một số nội dung xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

Tại dự thảo này, Bộ LĐ-TB&XH đề xuất, bổ sung quy định về trường hợp người hoạt động kháng chiến có con đẻ dị dạng, dị tật được công nhận và đã hoặc đang hưởng trợ cấp hàng tháng thì được xem xét giải quyết chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Về thủ tục, các cá nhân lập bản khai gửi Sở LĐ-TB&XH nơi quản lý hồ sơ giải quyết chế độ ưu đãi cho con đẻ bị dị dạng, dị tật. Trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận bản khai, Sở LĐ-TB&XH có trách nhiệm kiểm tra và đối chiếu hồ sơ hưởng trợ cấp của con đẻ dị dạng, dị tật. Nếu đúng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm xác lập hồ sơ, thì ra quyết định hưởng trợ cấp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học theo mức suy giảm khả năng lao động từ 41 - 60%.

Theo Bộ LĐ-TB&XH, lí do để bộ đưa ra đề xuất này là theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công thì người hoạt động kháng chiến sinh con dị dạng, dị tật được hưởng chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học như người suy giảm khả năng lao động từ 41 - 60%.

Tuy nhiên, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH mới chỉ quy định về hồ sơ xác lập mới cho đối tượng có con chưa được hưởng chế độ ưu đãi con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Một số đối tượng người hoạt động kháng chiến có con đẻ đã được giải quyết chế độ chưa được xem xét giải quyết chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, gây thiệt thòi cho đối tượng, đồng thời phát sinh nhiều đơn thư kiến nghị.

Do đó, việc áp dụng quy định này để xem xét giải quyết đối với những trường hợp đã được giải quyết chế độ theo các văn bản quy phạm pháp luật trước đây là không phù hợp. Để không bỏ sót và ảnh hưởng quyền lợi thụ hưởng chính sách của đối tượng, cần thiết có quy định hướng dẫn đối với các trường hợp này./.

Theo Mai Đan (thoibaotaichinhvietnam.vn)

Hỗ trợ điều trị vô sinh cho bộ đội làm việc trong môi trường độc hại

Đây là quy định tại Thông tư 187/2017/TT-BQP do Bộ Quốc phòng mới ban hành hướng dẫn một số điều về tiêu chuẩn vật chất quân y theo Nghị định số 76/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ, công nhân và viên chức quốc phòng.

Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác y tế trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thông tư quy định rõ về chi phí cho khám và điều trị vô sinh, hiếm muộn cho bộ đội do làm việc trong môi trường lao động quân sự độc hại. Theo đó, chi phí cho điều trị vô sinh, hiếm muộn là chi phí bảo đảm cho khám và điều trị vô sinh, hiếm muộn cho các đối tượng là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng làm việc trong môi trường lao động quân sự độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản.

Các đối tượng trên được gọi là vô sinh hoặc hiếm muộn khi có kết luận vô sinh hoặc hiếm muộn của các bệnh viện, trung tâm hỗ trợ sinh sản được Bộ Y tế công nhận.

Khám vô sinh, hiếm muộn gồm: Khám phân loại hiếm muộn, vô sinh; khám lâm sàng chuyên khoa sản, tiết niệu; khám cận lâm sàng (xét nghiệm nội tiết tố, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm tinh dịch, thăm dò phóng noãn).

Điều trị vô sinh, hiếm muộn gồm: Điều trị bằng thuốc, thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm và nuôi cấy tinh tử.

Các khoản chi phí cho khám và điều trị vô sinh, hiếm muộn cho bộ đội do làm việc trong môi trường lao động quân sự độc hại được hỗ trợ theo chi phí thực tế nhưng không vượt quá tiêu chuẩn định mức quy định tại Mục 7 Danh mục số 06 ban hành kèm theo Nghị định số 76/2016/NĐ-CP.

Chi phí khám sức khỏe định kỳ

Thông tư nêu rõ, chi phí khám sức khỏe định kỳ là các chi phí bảo đảm cho khám hoặc giám định sức khỏe hằng năm cho các đối tượng hưởng lương và phụ cấp.

Khám sức khỏe định kỳ cho sĩ quan cao cấp gồm: Khám lâm sàng các chuyên khoa (nội khoa; ngoại khoa; thần kinh, tâm thần; da liễu; mắt; tai-mũi-họng; răng-hàm-mặt) và khám cận lâm sàng (xét nghiệm chỉ số huyết học, sinh hóa máu; xét nghiệm nước tiểu; siêu âm tổng quát, điện tim, chụp X quang tim phổi; xét nghiệm miễn dịch, dấu ấn chỉ điểm một số ung thư).

Khám sức khỏe định kỳ cho đặc công, trinh sát, trắc thủ ra đa, tình báo, bộ đội đóng quân ở vùng biên giới và đảo gần bờ, bộ đội tàu mặt nước, lao động độc hại (theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) và sĩ quan trung cấp gồm: Khám lâm sàng các chuyên khoa (nội khoa; ngoại khoa; thần kinh, tâm thần; da liễu; mắt; tai-mũi-họng; răng-hàm-mặt) và khám cận lâm sàng (xét nghiệm chỉ số huyết học, sinh hóa máu; xét nghiệm nước tiểu; siêu âm tổng quát, điện tim, chụp X quang tim phổi; xét nghiệm miễn dịch)…

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/9/2017.

Theo Lan Phương (baochinhphu.vn)

Xác định giá trị quyền sử dụng đất được hoàn trả khi Nhà nước thu hồi đất

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 80/2017/TT-BTC hướng dẫn việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản gắn liền với đất được hoàn trả khi Nhà nước thu hồi đất và việc quản lý, sử dụng số tiền bồi thường tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng, số tiền hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất.

Thông tư quy định rõ về xác định giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất đã tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để hoàn trả cho chủ sở hữu tài sản khi Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (hướng dẫn khoản 1 Điều 18a Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ - được bổ sung tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP).

Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định việc trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất đối với các trường hợp Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại điểm c và điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai.

Việc xác định giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất để hoàn trả cho chủ sở hữu tài sản quy định nêu trên được thực hiện tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất.

Giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất quy định này là tổng giá trị còn lại của từng tài sản gắn liền với đất thu hồi. Giá trị còn lại của từng tài sản gắn liền với đất được xác định như sau:

Giá trị còn lại của cây trồng, vật nuôi được xác định bằng mức bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi quy định tại Điều 90 Luật Đất đai.

Giá trị còn lại của nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng khác gắn liền với đất (sau đây gọi là công trình xây dựng gắn liền với đất) được xác định theo công thức sau:

Giá trị còn lại của công trình xây dựng gắn liền với đất

=

Tỷ lệ % chất lượng còn lại của công trình xây dựng gắn liền với đất

x

Giá xây dựng mới của công trình xây dựng gắn liền với đất

Cơ quan tài chính (của cấp có thẩm quyền thu hồi đất) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thành lập Hội đồng để xác định giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất quy định nêu trên; trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt. Trường hợp cần thiết, cơ quan tài chính thuê tổ chức thẩm định giá xác định giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất quy định nêu trên; trên cơ sở đó, cơ quan tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất do tổ chức thẩm định giá xác định, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2017.

Theo LP (baochinhphu.vn)

Cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài qua mạng điện tử

Từ ngày 2.10, việc cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam sẽ được áp dụng theo hướng dẫn của Thông tư số 23/2017/TT-BLĐTBXH ngày của Bộ LĐ-TB-XH.

Sở LĐ-TB-XH TP.HCM vừa thông báo, kể từ ngày 2.10, việc cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam sẽ được áp dụng theo hướng dẫn của Thông tư số 23/2017/TT-BLĐTBXH ngày của Bộ LĐ-TB-XH.

Theo đó, việc cấp, cấp lại giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài sẽ được thực hiện thông qua cổng thông tin điện tử tại địa chỉ: http://dvc.vieclamvietnam.gov.vn

Để thực hiện, người sử dụng lao động phải đăng ký tài khoản để đăng nhập vào cổng thông tin điện tử.

Trước ít nhất 7 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc, người sử dụng lao động phải khai thông tin vào tờ khai và nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động qua cổng thông tin điện tử.

Hồ sơ bao gồm: Tờ khai và giấy tờ kèm theo phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; nếu các giấy tờ kèm theo ở dạng chứng từ giấy thì người sử dụng lao động phải chuyển đổi sang chứng từ điện tử dạng file pdf, doc, docx hoặc jpg.

Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan cấp giấy phép trả lời kết quả qua thư điện tử cho người sử dụng lao động.

Khi nhận được kết quả thông báo hồ sơ hợp lệ, người sử dụng lao động nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện bản gốc hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đến cơ quan cấp giấy phép lao động để kiểm tra, đối chiếu và lưu theo quy định.

Trong tối đa 8 giờ làm việc, kể từ khi nhận được bản gốc hồ sơ, cơ quan cấp giấy phép sẽ trả kết quả cho người sử dụng lao động.

Theo Hải Nam (thanhnien.vn)

Quy định mới về chuyển xếp lương quân nhân chuyên nghiệp

Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư 208/2017/TT-BQP hướng dẫn chuyển xếp lương đối với sĩ quan, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp.

Thông tư quy định rõ về chuyển xếp lương đối với viên chức quốc phòng được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp.

Trường hợp viên chức quốc phòng chưa hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung trước khi được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp thì chuyển xếp lương theo 03 bước như sau:

Bước 1: Căn cứ vào loại, nhóm lương viên chức quốc phòng đang hưởng để chuyển xếp lương sang loại, nhóm lương tương ứng của quân nhân chuyên nghiệp. Lấy hệ số lương của viên chức quốc phòng đang hưởng cộng với hệ số lương chênh lệch cao hơn của quân nhân chuyên nghiệp so với viên chức quốc phòng theo quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.

Bước 2: Căn cứ vào vị trí, chức danh chuyên môn kỹ thuật được tuyển chọn trong biểu tổ chức biên chế để xác định loại, nhóm lương được hưởng trong Bảng lương quân nhân chuyên nghiệp.

Bước 3: Căn cứ vào kết quả hệ số lương của Bước 1, thực hiện chuyển xếp vào bậc có hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất trong loại, nhóm lương quân nhân chuyên nghiệp đã được xác định tại Bước 2.

Thời điểm xét nâng bậc lương quân nhân chuyên nghiệp lần sau được tính kể từ tháng, năm ký Quyết định tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp.

Theo Thông tư, trường hợp viên chức quốc phòng đã hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung trước khi được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp, thực hiện chuyển xếp lương theo 03 bước như sau:

Bước 1: Căn cứ vào loại, nhóm lương viên chức quốc phòng đang hưởng để chuyển xếp lương sang loại, nhóm lương tương ứng của quân nhân chuyên nghiệp. Lấy tổng hệ số lương bao gồm hệ số lương theo bậc lương và hệ số phụ cấp thâm niên vượt khung (quy đổi ra hệ số = hệ số bậc lương cuối cùng x tỷ lệ % phụ cấp thâm niên vượt khung) của viên chức quốc phòng đang hưởng cộng với hệ số lương chênh lệch cao hơn của quân nhân chuyên nghiệp so với viên chức quốc phòng theo quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.

Bước 2 và Bước 3 được thực hiện như quy định của Bước 2, Bước 3 của trường hợp viên chức quốc phòng chưa hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung trước khi được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp.

Thời điểm xét nâng bậc lương quân nhân chuyên nghiệp lần sau được tính kể từ tháng, năm ký Quyết định tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/10/2017.

Theo Khánh Linh (baochinhphu.vn)

Chế độ thù lao cho người kiểm tra báo chí lưu chiểu

Từ ngày 01/10/2017, chế độ thù lao cho người đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu được thực hiện theo quy định tại Thông tư 81/2017/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành.

Thông tư nêu rõ, người đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu, thẩm định nội dung báo chí lưu chiểu, bao gồm: Công chức được giao nhiệm vụ thường xuyên đọc, nghe, xem báo chí lưu chiểu của Cục Báo chí, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông;  công chức được giao nhiệm vụ thường xuyên đọc, nghe, xem báo chí lưu chiểu thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; cộng tác viên là người được Cục Báo chí, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Sở Thông tin và Truyền thông ký hợp đồng cộng tác viên đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu...

Cơ sở tính định mức đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu là tin, bài được đăng, phát trên báo chí.

Thù lao thẩm định nội dung báo chí lưu chiểu được chi trả tối đa không quá 500.000 đồng/vấn đề/văn bản tham gia ý kiến (tối đa 03 ý kiến/01 vấn đề).

Đối với chi tổ chức họp hội đồng thẩm định về những vấn đề liên quan đến báo chí lưu chiểu: Chủ trì mức chi 150.000 đồng/người/cuộc họp; các thành viên tham dự, mức chi 100.000 đồng/người/cuộc họp.

Mức chi trả thù lao đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu, thẩm định nội dung báo chí lưu chiểu quy định tại Thông tư này là mức chi tối đa. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định mức chi cụ thể đối với Cục Báo chí, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử để thực hiện chi tiêu cho phù hợp nhưng không vượt quá mức chi tối đa quy định.

Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chi cụ thể tại địa phương cho phù hợp nhưng tối đa không vượt quá mức tối đa quy định.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2017.

Theo Lan Phương (baochinhphu.vn)

Công chức, viên chức được cử đi đào tạo tự ý bỏ học phải đền bù

Cán bộ, công chức, viên chức, được cử đi đào tạo từ trình độ trung cấp trở lên bằng nguồn ngân sách nhà nước hoặc kinh phí của cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phải đền bù chi phí đào tạo khi tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trong thời gian đào tạo…

Ngày 01/9/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2017/NĐ-CP quy định về nội dung, chương trình, hình thức và quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

Theo đó, đối tượng đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học là: Cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số hoặc công tác tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và phải có cam kết thực hiện nhiệm vụ, công vụ tại cơ quan, đơn vị sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 02 lần thời gian đào tạo.

Đồng thời, Nghị định cũng quy định rõ việc cán bộ, công chức, viên chức phải đền bù chi phí đào tạo khi: Tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trong thời gian đào tạo; không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng tốt nghiệp; đã hoàn thành và được cấp văn bằng tốt nghiệp khóa học nhưng bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc khi chưa phục vụ đủ thời gian cam kết quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 Nghị định này.

Chi phí đền bù và cách tính chi phí

Chi phí đền bù bao gồm học phí và tất cả các khoản chi khác phục vụ cho khóa học, không tính lương và các khoản phụ cấp (nếu có).

Cách tính chi phí đền bù: Đối với trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 7 Nghị định này, cán bộ, công chức, viên chức phải trả 100% chi phí đền bù; đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định này, chi phí đền bù được tính theo công thức sau: S = F x (T1 – T2)

Trong đó:

– S là chi phí đền bù;

– F là tổng chi phí do cơ quan, đơn vị cử cán bộ, công chức, viên chức đi học chi trả theo thực tế cho 01 người tham gia khóa học;

– T1 là thời gian yêu cầu phải phục vụ sau khi đã hoàn thành khóa học (hoặc các khóa học) được tính bằng số tháng làm tròn;

– T2 là thời gian đã phục vụ sau đào tạo được tính bằng số tháng làm tròn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 21/10/2017.

Ví dụ: Anh A được cơ quan cử đi đào tạo thạc sỹ 02 năm (= 24 tháng), chi phí hết 30 triệu đồng. Theo cam kết, anh A phải phục vụ sau khi đi học về ít nhất là 48 tháng. Sau khi tốt nghiệp, anh A đã phục vụ cho cơ quan được 24 tháng. Sau đó, anh A tự ý bỏ việc. Chi phí đào tạo mà anh A phải đến bù là: S = 30 triệu đồng x (48 tháng – 24 tháng) = 15 triệu đồng

Theo Anh Nga (kiemsat.vn)