Quy hoạch phát triển làng nghề tỉnh Bình Định đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Email In PDF.

I. QUAN ĐIỂM QUY HOẠCH:

- Quy hoạch phát triển làng nghề phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển CN - TTCN trên địa bàn tỉnh; đồng thời phải gắn với công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong các sản phẩm và phát triển du lịch.

- Quy hoạch phát triển làng nghề phải gắn với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển hiệu quả, bền vững. Phát triển ngành nghề gắn với thu hút lao động, giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống dân cư nông thôn.

II. MỤC TIÊU QUY HOẠCH:

- Đến năm 2010: Đầu tư phát triển 19 làng nghề đạt chuẩn và từng bước khôi phục, củng cố 19 làng nghề khác. Giá trị SXCN của các làng nghề (giá CĐ 1994) chiếm trên 3% trong tổng giá trị SXCN toàn tỉnh, thu hút và tạo thêm việc làm mỗi năm khoảng 2.000 lao động; phấn đấu đạt mức thu nhập bình quân từ 08 - 09 triệu đồng/lao động/năm (mức thu nhập hiện nay từ 4,6 - 5 triệu đồng/lao động/năm).

- Đến năm 2015: Đầu tư, phát triển thêm 19 làng nghề đạt chuẩn để nâng tổng số làng nghề tiểu thủ công nghiệp đạt chuẩn là 38 làng nghề, hoạt động ổn định kể từ sau năm 2015. Các làng nghề này tạo ra giá trị SXCN (giá CĐ 1994) chiếm từ   2 - 3% trong tổng giá trị SXCN toàn tỉnh, thu hút và tạo thêm việc làm mỗi năm khoảng 1.800 lao động; phấn đấu đạt mức thu nhập bình quân từ 10 - 11 triệu đồng/lao động/năm; tiến tới xuất khẩu một số sản phẩm như hải sản khô, rượu Bầu Đá và hàng thủ công mỹ nghệ các loại. Giai đoạn 2006 - 2020 phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 03 triệu USD.

III. NHIỆM VỤ QUY HOẠCH:

Rà soát, cân đối các yếu tố có liên quan để quy hoạch phát triển ổn định, bền vững các làng nghề nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển các làng nghề theo quy định. Phân loại, củng cố, đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm các làng nghề đã được quy hoạch đến năm 2010 và 2020; đồng thời điều tra, xác định, hướng dẫn các làng nghề, cơ sở sản xuất trong làng nghề đang gây ô nhiễm và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong cộng đồng dân cư vào các cụm, điểm công nghiệp phù hợp để đảm bảo cảnh quan môi trường sinh thái và đời sống sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân.

IV. NỘI DỤNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN:

1. Số làng nghề được quy hoạch phát triển: 38 làng.

2. Quy hoạch phát triển các làng nghề theo nhóm hàng:

2.1. Nhóm chế biến hàng nông sản, thực phẩm: có 09 làng nghề được quy hoạch phát triển theo hai giai đoạn từ 2006 - 2010 và từ 2011 - 2015; cụ thể như sau:

* Các làng nghề được quy hoạch phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010:

- Làng nghề Rượu Bàu đá Cù Lâm (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Bún tươi Ngãi Chánh (thôn Ngãi Chánh, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn);

* Các làng nghề được quy hoạch phát triển trong giai đoạn 2011 - 2015:

- Làng nghề Bún số 8 và Bánh tráng các loại Tam Quan Nam (thôn Tăng 1, xã Tam Quan Nam, huyện Hoài Nhơn);

- Làng nghề Bún gạo tươi Tường An (thôn Tường An, xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Bánh tráng mì chà Mỹ Hội (bao gồm các thôn Mỹ Hội 1, 2, 3, xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Bánh tráng Mỹ Phong (bao gồm thôn Vĩnh Bình, Vân Tường, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Bánh tráng Phú Gia (thôn Phú Gia, xã Cát Tường, huyện Phù Cát);

- Làng nghề Bánh tráng Trường Cửu (thôn Trường Cửu, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Bánh tráng Kim Tây (thôn Kim Tây, xã Phước Hòa,  huyện Tuy Phước);

2.2. Nhóm chế biến hải sản khô các loại: Có 02 làng nghề được quy hoạch phát triển; trong đó làng nghề chế biến cá cơm khô Mỹ An (xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ) được quy hoạch phát triển vào giai đoạn 2006 - 2010 và làng nghề chế biến hải sản khô Mỹ Thọ (xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ) được bố trí quy hoạch phát triển vào giai đoạn 2011 - 2015.

2.3. Nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Có 07 làng nghề được quy hoạch phát triển theo hai giai đoạn từ 2006 - 2010 và từ 2011 - 2015; cụ thể như sau:

* Các làng nghề được quy hoạch phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010:

- Làng nghề Dệt thảm xơ dừa và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa Tam Quan Nam (bao gồm các thôn Lợi Tây, Lợi Bắc, Lợi Nam, xã Tam Quan Nam, huyện Hoài Nhơn);

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ xơ dừa và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa Mỹ Lợi (bao gồm các thôn Chánh Khoan Đông, Chánh Khoan Tây, Chánh Khoan Nam, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Tiện gỗ mỹ nghệ Nhơn Hậu (thôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn).

- Làng nghề Dệt vải thổ cẩm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ vải thổ cẩm làng Hà Ri (xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh);

* Các làng nghề được quy hoạch phát triển trong giai đoạn 2011 - 2015:

- Làng nghề Dệt vải thổ cẩm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ vải thổ cẩm làng Hà Văn Trên (xã Canh Thuận, huyện Vân Canh);

- Làng nghề Dệt vải thổ cẩm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ vải thổ cẩm Bok Tới (xã Bok Tới, huyện Hoài Ân);

- Làng nghề Dệt vải thổ cẩm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ vải thổ cẩm An Trung (xã An Trung, huyện An Lão);

2.4. Nhóm sản xuất công cụ, dụng cụ và hàng tiêu dùng: Có 20 làng được quy hoạch phát triển theo hai giai đoạn từ 2006 - 2010 và từ 2011 - 2015; cụ thể như sau:

* Các làng nghề được quy hoạch phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010:

- Làng nghề Gốm Vân Sơn (thôn Vân Sơn, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Rèn Tây Phương Danh (thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Nhang Xuân Quang (thôn Xuân Quang, xã Cát Tường, huyện Phù Cát);

- Làng nghề Nón lá Gò Găng (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Nón ngựa Phú Gia (thôn Phú Gia, xã Cát Tường, huyện Phù Cát);

- Làng nghề Nón lá Thuận Hạnh (bao gồm các thôn Thuận Hạnh, Thuận Hiệp, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn);

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói Hoài Châu Bắc (bao gồm các thôn Chương Hòa, Gia An Đông, Gia An, Quy Thuận, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn );

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói Tam Quan Bắc (bao gồm các thôn Công Thạnh, Dĩnh Thạnh, xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn);

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói Phú Hậu (thôn Phú Hậu, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát);

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói Chánh Hội (bao gồm các thôn Chánh Hữu, Chánh Hội, xã Cát Chánh, huyện Phù Cát);

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói Lạc Điền (thôn Lạc Điền, xã Phước Thắng, huyện Tuy Phước);

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói An Lợi (thôn An Lợi, xã Phước Thắng,  huyện Tuy Phước);

* Các làng nghề được quy hoạch phát triển trong giai đoạn 2011 - 2015:

- Làng nghề Sản xuất các sản phẩm từ cói Mỹ Thắng (bao gồm các thôn 10, 11, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Đan đát Mỹ Tài (bao gồm các thôn Vĩnh Lý, Vĩnh Nhơn, xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Sản xuất dây chỉ nhựa Mỹ Phong (bao gồm thôn Vĩnh Bình, Văn Tường, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ);

- Làng nghề Nón lá Tân Nghi (thôn Tân Nghi, xã Nhơn Mỹ, An Nhơn).

- Làng nghề Đan đát Nhơn Khánh (thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Đan đát Nhơn Lộc (thôn Đông Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Nón lá Mỹ Hòa (thôn Mỹ Hòa, thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Que nhang Bả Canh (thôn Bả Canh, thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn);

(Nội dung quy hoạch chi tiết của các làng nghề nêu trên xem trong tài liệu Quy hoạch kèm theo).

3. Quy hoạch phát triển một số làng nghề gắn với phục vụ phát triển du lịch: Trong tổng số 38 làng nghề được quy hoạch phát triển đến năm 2020, có 05 làng nghề được quy hoạch gắn với phục vụ phát triển du lịch, đó là:

- Làng nghề Rượu Bàu Đá Cù Lâm (xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Tiện gỗ mỹ nghệ Nhạn Tháp (xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Rèn Tây Phương Danh (thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn);

- Làng nghề Nón ngựa Phú Gia (xã Cát Tường, huyện Phù Cát);

- Làng nghề Dệt vải thổ cẩm và sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ vải thổ cẩm Hà Ri (xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh).

4. Những vấn đề có liên quan đến các cơ sở sản xuất, làng nghề hiện đang hoạt động kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường:

Các cơ sở sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ và gây ô nhiễm môi trường cấp độ nặng không thuộc diện quy hoạch thành làng nghề. Trong những năm đến, chính quyền địa phương (huyện, xã) và các cơ quan có liên quan cần tổ chức vận động, tuyên truyền hướng dẫn các cơ sở này chuyển đổi ngành nghề phù hợp hoặc muốn tiếp tục sản xuất thì di dời vào các cụm, điểm công nghiệp theo quy hoạch, cụ thể gồm có:

- Các cơ sở chế biến tinh bột mì tại các thôn Phụng Du 1, 2 và Tấn Thạnh 1, 2 (xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn);

- Các cơ sở chế biến tinh bột mì thôn Phú Hưng (xã Bình Tân), thôn Ngãi Hậu (xã Bình Thành), huyện Tây Sơn;

- Các cơ sở sản xuất gạch ngói tại các thôn Thượng Giang (xã Tây Giang), Trà Sơn (xã Tây An), Phú Hòa, Phú An (xã Tây Xuân), Hòa Lạc, Hòa Trung (xã Bình Tường), thôn 1, 2, thôn Lai Nghi, Thủ Thiện (xã Bình Nghi), huyện Tây Sơn.

V. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:

Để đảm bảo tính khả thi trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh, cần sử dụng các giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tăng cường quản lý nhà nước.

2. Giải pháp về kỹ thuật công nghệ và bảo vệ môi trường.

3. Giải pháp về phát triển hạ tầng.

4. Giải pháp về đào tạo lao động, đào tạo quản lý.

5. Các giải pháp về đầu tư phát triển vùng nguyên liệu.

6. Giải pháp về thị trường.

7. Giải pháp về vốn:

* Nhu cầu vốn đầu tư giai đọan 2006 - 2020 khoảng 41,6 tỷ đồng (bình quân 2,8 tỷ đồng/năm); trong đó:

- Giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 24,3 tỷ đồng;

- Giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 9,8 tỷ đồng;

- Giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 7,5 tỷ đồng.

* Huy động vốn:

- Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương thông qua các chương trình khuyến công, hỗ trợ dạy nghề, vốn chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm hàng năm và 5 năm theo các quy định tại Nghị định 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 của Chính phủ và Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ;

- Ngân sách tỉnh cấp thông qua các chương trình khuyến công hàng năm và từng giai đoạn; vay vốn tín dụng ưu đãi hỗ trợ đầu tư XD cơ sở hạ tầng làng nghề hàng năm; vốn sự nghiệp khoa học công nghệ hỗ trợ đăng ký nghiên cứu, ứng dụng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học;

- Các địa phương (UBND các huyện, xã) cần chủ động cân đối, bố trí vốn đối ứng, vốn hỗ trợ cho các chương trình, dự án đầu tư khôi phục phát triển làng nghề từ các nguồn vận động tài trợ, đóng góp của các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp, các cơ sở SX trong các làng nghề;

- Bố trí một phần thích hợp từ nguồn thu theo phân cấp ngân sách trên địa bàn để tham gia thực hiện các chính sách hỗ trợ khôi phục và phát triển làng nghề theo quy định.

Nguồn: Quyết định 786/QĐ-UBND ngày 8/11/2006 của UBND tỉnh Bình Định